Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ 1. Công tác văn thư Thuật ngữ công tác văn thư được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu, trong văn bản quy định, cụ thể như sau: Công tác văn thư là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động liên quan đến soạn thảo, ban hành văn bản, tổ chức quản lý, xử lý văn bản và lập hồ sơ hiện hành nhằm đảm bảo cung cấp thông tin văn bản phục vụ cho công tác quản lý của các cơ quan, tổ chức. Tác giả Vương Đình Quyền trong cuốn Lý luận và phương pháp công tác văn thư (NXB Đại học Quốc Gia, 2005, tr. 8) đã nhấn mạnh khía cạnh này.
Theo Điều 1, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư, nội dung của công tác văn thư bao gồm: "soạn thảo, ban hành văn bản, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư”. Dựa trên các khái niệm đã nêu, có thể định nghĩa công tác văn thư như sau: Công tác văn thư bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc soạn thảo, ký, ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ vào tài liệu lưu trữ của cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, cũng như các thiết bị lưu khóa bí mật. Tất cả những hoạt động này nhằm đảm bảo cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành công việc của các cơ quan, tổ chức. Công tác lưu trữ Có nhiều khái niệm về công tác lưu trữ như: Theo Luật Lưu trữ năm 2011, công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của nhà nước, bao gồm mọi vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý liên quan đến tổ chức khoa học, bảo quản và khai thác, sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ để phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa học lịch sử, cũng như các nhu cầu hợp pháp khác của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Theo Thông tư số 04/2013/TT-BNV ngày 16 tháng 4 năm 2013 của Bộ Nội vụ, công tác lưu trữ bao gồm các công việc như thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu và sử dụng tài liệu lưu trữ hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức. 8 Dựa trên cơ sở lý luận và pháp lý, công tác lưu trữ có thể được định nghĩa là một hoạt động của nhà nước, bao gồm toàn bộ các công việc liên quan đến việc thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, thống kê, bảo quản và khai thác, sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hiệu quả Theo từ điển Hành chính (NXB Hà Nội, 1997, tr.120), “Hiệu quả” là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành chính, thể hiện qua sự so sánh giữa chi phí đầu vào với giá trị đầu ra, nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Hiệu quả phản ánh mối tương quan giữa việc sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra - đầu vào, khi giá trị của kết quả cao hơn giá trị của nguồn lực đã sử dụng.
Hiệu quả của một hoạt động được định nghĩa là kết quả đạt được so với chi phí và thời gian đã bỏ ra cho hoạt động đó. Có thể hiểu hiệu quả là kết quả trừ đi chi phí. Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là kết quả của một hành động hoặc nhiệm vụ cụ thể, đáp ứng yêu cầu đề ra. Như vậy, hiệu quả là kết quả đạt được như yêu cầu của một việc làm mang lại.
Một công việc được coi là hiệu quả khi sản phẩm tạo ra đáp ứng được kỳ vọng của người thực hiện mà không tiêu tốn quá nhiều chi phí. Hiệu quả cũng có thể hiểu là việc sử dụng và kết hợp các nguồn lực đầu vào một cách tối ưu và tiết kiệm nhất để đạt được kết quả cao hơn. Tóm lại, thuật ngữ “Hiệu quả” có thể được định nghĩa là sự so sánh và đối chiếu kết quả đạt được với toàn bộ nguồn lực đã sử dụng, nhằm đánh giá kết quả đó với chi phí thấp nhất. Hiệu quả công tác văn thư, lưu trữ Đối với các cơ quan, tổ chức, công tác VT-LT có vai trò đặc biệt quan trọng, nó không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và hiệu lực của hệ thống thể chế hiện hành.
Hiệu quả hoạt động VT-LT được đo lường qua việc thực hiện các công tác như: soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản, lập hồ sơ, giao nộp hồ sơ vào lưu trữ, quản lý con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật và bảo quản tài liệu. Các công việc này được thực hiện liên tục, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có (nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị) nhằm đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ cho hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan. 9 Hiệu quả của công tác VT-LT đóng góp vào việc giải quyết công việc của tổ chức một cách nhanh chóng, chính xác, năng suất cao và đảm bảo chất lượng, tuân thủ đúng chính sách và quy định, đồng thời bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật của đơn vị. Khi công tác văn thư được thực hiện một cách có trật tự, sẽ giúp bảo quản đầy đủ hồ sơ, tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lưu trữ.
Nguồn tài liệu bổ sung cho lưu trữ chủ yếu xuất phát từ giai đoạn văn thư. Nâng cao hiệu quả công tác văn thư, lưu trữ Theo Từ điển Tiếng Việt: Nâng cao là làm cho cao hơn trước, đưa lên mức cao hơn. Thực chất, “nâng cao” là toàn bộ những hoạt động tích cực, chủ động và tự giác của người thực hiện, nhằm đạt được các mục tiêu và yêu cầu đã đề ra. Nâng cao hiệu quả có thể hiểu là toàn bộ các biện pháp, cách thức được thực hiện nhằm nâng cao kết quả đạt được, vượt qua mức bình thường.
Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về việc nâng cao hiệu quả công tác VT- LT. Bản chất của việc nâng cao hiệu quả là đánh giá xem các hoạt động này có hỗ trợ tốt cho công tác của cơ quan, đơn vị hay không. Nếu công tác VT-LT phục vụ tốt, kết quả đạt yêu cầu, không gặp khó khăn thì đã hiệu quả. Ngược lại, nếu tài liệu không phù hợp, không thể tìm thấy khi cần, thì công tác này cần cải thiện.
Tuy nhiên, do quản lý VT-LT là một yếu tố định tính, việc đo lường và so sánh hiệu quả là khó khăn. Dựa trên các phân tích về khái niệm nâng cao hiệu quả, tác giả đưa ra định nghĩa trong phạm vi đề án: Nâng cao hiệu quả công tác VT-LT là tổng hợp các biện pháp và cách thức mà các chủ thể thực hiện nhằm đạt được kết quả cao hơn trong công tác này. Nâng cao hiệu quả công tác VT-LT sẽ góp phần đảm bảo hoạt động thông suốt của nền hành chính nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý hành chính hiện nay. Vì vậy, mỗi cơ quan, tổ chức cần có nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của công tác VT-LT để đưa ra các biện pháp phù hợp, giúp công tác này đi vào nề nếp và nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan, đơn vị.
Hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ 1. Hoạt động quản lý công tác văn thư, lưu trữ Các nghiệp vụ liên quan đến công tác VT-LT của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân nhằm phục vụ cho việc thu thập, thống kê, khai thác, tra cứu, bảo quản 10 và sử dụng tài liệu một cách hiệu quả nhất. Một số công việc cơ bản trong quản lý và tổ chức công tác VT-LT bao gồm: - Xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác VT-LT. - Hướng dẫn việc kiểm tra, thực hiện các văn bản về công tác VT-LT; - Tổ chức bộ máy nhân sự phục vụ công tác VT-LT; - Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn thư; - Bố trí trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ công tác VT-LT; - Tổ chức thực hiện công tác báo cáo, thống kê tài liệu trong VT-LT; - Xây dựng và chỉ đạo và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển lưu trữ; - Quản lý thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia; thống kê nhà nước về lưu trữ; - Quản lý thống nhất về nghiệp vụ công tác văn thư; quản lý nghiên cứu khoa học; - Ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác VT-LT; - Quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức lưu trữ; - Thu thập, bổ sung tài liệu lưu trữ; - Phân loại, xác định giá trị các tài liệu; - Quản lý công tác thi đua, khen thưởng trong lĩnh vực VT-LT; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về công tác VT-LT.
- Sơ kết, tổng kết VTLT; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực VT-LT… 1. Hoạt động tổ chức thực hiện nghiệp vụ văn thư, lưu trữ 1. Hoạt động nghiệp vụ văn thư Theo Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư, các nghiệp vụ chủ yếu của công tác văn thư được quy định như sau: Thứ nhất, soạn thảo và ban hành văn bản: Văn bản của cơ quan, tổ chức phải được soạn thảo và ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức theo quy định. Quy trình bao gồm: xác định nội dung, chọn thông tin, tài liệu, thể thức, viết và duyệt bản thảo, chỉnh sửa, hoàn thiện văn bản, kiểm tra thể thức và cuối cùng là ký và ban hành văn bản.
Thứ hai, quản lý văn bản: - Quản lý văn bản đi: văn bản đi là tất cả các văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành, văn bản đi cần được quản lý đúng quy định, bao gồm việc theo dõi và lưu trữ các văn bản đã phát hành từ cơ quan, tổ chức. 11 - Quản lý văn bản đến: văn bản đến là tất cả các loại văn bản do cơ quan, tổ chức nhận được từ cơ quan, tổ chức, cá nhân khác gửi đến.