Chương 1: Đổi mới về nhu cầu xã hội hiện nay đối với người làm nghề kế toán Chương 2: Thực trạng chương trình Thực tập thực tế ngành Kế toán UEB hiện nay Chương 3: Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả chương trình thực tập thực tế ngành Kế toán UEB Chương 4: Đề xuất Mô hình Thực tập thực tế cho sinh viên ngành Kế toán UEB 7. Sản phẩm của đề tài Sản phầm của đề tài là viết 01 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành. DOI MOI VE NHU CÀU XÃ HỘI HIỆN NAY DOI VOI NGUOI LAM NGHE KE TOAN 1. Hi nhập - Cơ hội và thách thức mới đối với người làm nghề kế toán Từ năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoạch định tầm nhìn ASEAN 2020 bao gồm ba trụ cột chính là: (i) Cộng đồng An ninh - Chính trị ASEAN (APSC), (ii) Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) va (i ii) Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC).
Năm 2007, một lần nữa các nhà lãnh đạo nhấn mạnh lại cam kết này. Cùng với việc tham gia AEC, Việt Nam sẽ ký các Hiệp định như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Điều này được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội cho người lao động nói chung và cho người làm nghề kế toán nói riêng. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức thành lập vào ngày 31/12/2015.
Đây là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á. Bước ngoặt này vừa tạo ra cơ hội, vừa là thách thức lớn đối với lao động Việt Nam cũng như công tác đào tạo nghề hiện nay, trong đó có nghề kế toán. Các nước thành viên trong AEC phải thực hiện cam kết về tự do luân chuyển lao động. Cơ hội dịch chuyển sẽ dành cho lao động có chất lượng, song cũng đặt ra không ít thách thức cho lao động thiếu kỹ năng.
Khi AEC ra đời với quy mô GDP 2,200 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người 3,100 USD/năm và với chênh lệch rất lớn, từ 1.000 USD/người (Campuchia, Myanmar) đến 40,000 USD/người (Singapore) có thé là nguyên nhân thúc day di chuyển lao động trong khối. Trong khi đó, các nước ASEAN mới cho phép lao động thuộc 8 ngành (kiểm toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ, y tá, điều tra viên và du lịch) được quyền di chuyền tìm việc làm sau khi AEC hình thành thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương!. ' Bùi Hồng Cường (2015), Hướng tới cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 2015: Động thái của các quốc gia ASEAN, hàm ý đối với Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN. Xuất phát từ thực tế: Việt Nam có lực lượng lao động đổi dao và cơ cấu lao động “trẻ”.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến giữa năm 2014, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53.8 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 47.52 triệu người. Trong số lực lượng lao động, trên 51% có độ tuổi từ 15-39 tuổi, trong đó nhóm tuổi trẻ (15-29 tuổi) chiếm đến 26.7% và nhóm tuổi thanh niên (15-24 tuổi) chiếm gần 15%. Đây là nhóm tuổi có tiềm năng tiếp thu được những tri thức mới, kỹ năng mới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động của Việt Nam.Việc tham gia AEC mở ra cho lao động Việt Nam, đặc biệt là lao động trẻ nhiều cơ hội, như: đa dạng hóa đối tượng tham gia hoạt động kế toán, kiểm toán tại Vi lệt Nam, giúp Việt Nam tăng cường hội nhập với khu vực về lĩnh vực kế toán, kiểm toán; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam (có CPA ASEAN) được sang làm việc tại các nước khác trong khu vực và học hỏi kinh nghiệm tốt từ các quốc gia này. Người lao động có cơ hội tương tác và nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng chuyên ngành ở các nước tiên tiến trong khu vực.
Người lao động Việt Nam sẽ được “cọ sát” khi làm việc ở nhiều nơi, làm tăng tính linh hoạt, khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa - vốn dĩ là một điểm chưa mạnh của Việt Nam sẽ được nâng cao và cải thiện đáng kê. Thực tiễn cho thấy, nhân lực Việt Nam có khả năng đảm nhận những công việc kể cả vị trí điều hành khá cao trong doanh nghiệp của các đối tác đầu tư đến từ ASEAN. Những dấu hiệu trên cho thấy, tiềm năng đáng ké của lao động Việt Nam trong việc sẵn sang tham gia cộng đồng ASEAN. Có thể thấy rõ tiềm năng của lao động Việt Nam qua chất lượng lao động ngày càng được nâng lên; tỷ lệ lao động qua dao tạo tăng từ 30% lên 38% trong vòng 10 năm trở lại đây (theo cách tiếp cận và cách tính của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội).
Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài. Theo ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc ILO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam sẽ là một trong một số nước hưởng lợi nhiều hơn từ việc hội nhập kinh tế khu vực sâu rộng so với các nước khác do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào ngoại thương. Đến 2025, năng suất lao động của Việt Nam có thẻ tăng hơn gấp đôi so với mức năm 2010.
Cùng với sự gia tăng của các dòng đầu tư và thương mại, tốc độ thay đổi cơ cầu kinh tế hướng tới các ngành có giá trị cao hơn sẽ được day nhanh. Điều này có thể giúp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường toàn cầu dựa trên năng suất lao động và kỹ năng nghề nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên, tham gia vào AEC cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, chủ yếu là việc cạnh tranh gay gắt trong thị trường dịch vụ nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trong nước, trong khi nhân lực ngành kế toán, kiêm toán của Việt Nam còn kém về năng lực cạnh tranh cả ở góc độ doanh nghiệp và góc độ kiểm toán viên. Nếu không nâng cao năng lực cạnh tranh thì thị trường trong nước sẽ bị nhân lực chất lượng cao hơn, kinh nghiệm và chuyên môn tốt hơn của các nước trong khu vực sẽ tìm đến cạnh tranh, điều này có thể làm giảm thu nhập, thậm chí lấy đi việc làm của nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán trong nước.
Như vậy, chúng ta đã đánh mất cơ hội do cộng đồng kinh tế ASEAN mang lại. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang điêm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt nam chỉ đạt 3.79 điểm - xếp thứ 11/12 nước Chau A tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới; trong khi Hàn Quốc là 6.59; Thái Lan là 4. Chất lượng lao động thấp khiến năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu A - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần.
Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Trong giai đoạn 2002-2007, năng suất lao động tăng trung bình 5. Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng năng suất trung bình hàng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3. Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác.
Một nguy cơ khác đối với thị trường lao động Việt Nam là khi AEC ra đời, tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng lên do cạnh tranh về việc làm sẽ rất khốc liệt khi lao động giữa các nước có thé di chuyền tự do. Thực tế cho thấy, điểm yếu của lao động Việt Nam là thiếu các kỹ năng mềm, như làm việc nhóm, giao tiếp, khả năng ngoại ngữ,. Theo thống kê của Tổ chức thực hiện thi IELTS (Hệ thống kiểm tra sự thành thạo tiếng Anh quốc tế theo thang điểm 0-9) thì thí sinh Việt Nam có điểm trung bình là 5.78 thuộc vào nhóm các nước có điểm trung bình thấp, đứng sau Indonexia (5. Những hạn chế, những yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (năm 2011 xếp thứ 65/141 nước xếp hạng, nhưng đến năm 2014 xếp thứ 70/148 nước xếp hạng).
Nếu chính người lao động không nâng cao kỹ năng thì họ có thê mat việc ngay tại sân nha. Do đó, để thích ứng với hoàn cảnh mới, người lao động phải hỏi hỏi, cập nhật kỹ năng mới. Bên cạnh đó, nâng cao năng suất lao động cũng là một yêu cầu cần phải chuẩn bị để hội nhập hiệu quả AEC. Năng suất lao động Việt Nam còn rất thấp so với các nước còn lại trong khối ASEAN, chỉ cao hơn lao động tai Lào và Campuchia.
Cụ thé, năng suất trung bình của người lao động Việt Nam thấp dưới một nửa so với Philippines, nhinh hơn một phần tư của Thái Lan, dưới một phần mười của Malaysia và chỉ chưa bằng 3% năng suất của Singapore. Điều này đồng nghĩa với chất lượng của lao động Việt Nam hiện nay còn rất thấp. Thông thường năng suất thấp đi liền với tiền lương thấp - nhiều người cho rằng đó là lợi thế của nước đi sau. Nhưng thực tế, tiền lương chỉ hấp dẫn khi nó thấp hơn năng suất thực (đồng nghĩa với việc người chủ khi trả lương sẽ thu được lợi thé).
Tuy nhiên, mức sống ở Việt Nam ngày cảng đắt đỏ như hiện nay đã khiến tiền lương tăng nhanh hơn năng suất, làm xói mòn lợi thế lao động giá rẻ trong khu vực. Thêm vào đó, nguy cơ của nền kinh tế chỉ dựa vào lao động giá rẻ và năng suất thấp là rất cao, lao động chất lượng thấp đồng nghĩa với tính kém đa dạng của các loại kỹ năng, khả năng sáng tạo cũng như hiệu qua tô chức. Với những đặc điểm này, Việt Nam sẽ không phải là một điểm đến hấp dẫn cho những dự án đầu tư mang tính tiên phong về công nghệ hoặc quy mô. Và điều này sẽ là nguyên nhân tách Việt Nam (và các nước đi sau) ngày càng xa các nước đã có một nền tảng tốt hơn trong ASEAN (như Malaysia, Thái Lan hoặc Indonesia).