Chương I: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng tại NHTM Chương II: Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – CN Kim Đồng Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – CN Kim Đồng 4 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Mác, tín dụng được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Một cách định nghĩa khác, tín dụng là quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản, gồm tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín.Nguyễn Văn Tiến & TS.Nguyễn Thị Lan, 2014) Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) trên cơ sở lòng tin khách hàng có khả năng hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn.Nguyễn Văn Tiến, 2013) Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.Tô Ngọc Hưng, 2016) Như vậy, TD ngân hàng đặt trong mối quan hệ giữa hai chủ thể chính, đó là người cấp TD (ngân hàng) và người được cấp TD (doanh nghiệp, cá nhân,…). Trong hoạt động cấp TD, thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ của KH là hai yếu tố rất quan trọng. Bởi một KH có năng lực tài chính tốt đồng thời KH đó có phẩm chất đạo đức tốt, có thiện chí, có trách nhiệm với khoản nợ của mình với ngân hàng là 5 điều kiện góp phần vừa làm tăng uy tín của KH đó với ngân hàng, gia tăng mối quan hệ giữa hai bên, vừa nâng cao chất lượng TD cho ngân hàng. Đặc trưng và bản chất của tín dụng ngân hàng Bản chất của tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, bằng tài sản hay uy tín với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính khác.Tô Ngọc Hưng (2016), Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, NXB Lao Động – Xã hội, nêu rõ bản chất của tín dụng ngân hàng bao gồm: Thứ nhất, tín dụng phải dựa trên cơ sở niềm tin.
Tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa bên cho vay và bên đi vay. Chỉ khi nào người cho vay thực sự tin tưởng vào sự sẵn lòng trả nợ và khả năng trả nợ của người vay, khi đó quan hệ tín dụng mới được thiết lập. Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng. Mặt khác, người đi vay cũng tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay của mình.
Thứ hai, tín dụng là hoạt động luôn chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến việc lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng còn có những nguyên nhân khách quan như: sự biến động của thị trường, chu kỳ kinh tế, sự thay đổi của chính sách, những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch họa… Thứ ba, tín dụng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng tài sản của ngân hàng cho người đi vay, trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Sau một thời gian như đã thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay một khoản giá trị gồm cả gốc và lãi. Phần chênh lệch này là giá trị của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của người khác. Do vậy, nó phải đủ lớn để đem lại sự hấp dẫn cho người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn.
Ngân hàng là trung gian tài chính đi vay để cho vay, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng trả vốn huy động trong một thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Thời hạn vay cho phù 6 hợp với kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Vai trò của tín dụng ngân hàng Nền kinh tế thị trường đang ngày càng hội nhập và phát triển, theo đó các yếu tố cạnh tranh cũng ngày càng gia tăng. Sự hình thành và phát triển của tín dụng ngân hàng là bước tiến vô cùng quan trọng, giúp thúc đẩy kinh tế phát triển.
Chính vì vậy, TD ngày càng giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ.Tô Ngọc Hưng (2016), Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, NXB Lao Động – Xã hội, chỉ ra rằng vai trò của tín dụng ngân hàng gồm: Thứ nhất, TD ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và nhà tiết kiệm. Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn bằng tiền tạm thời chưa được sử dụng, đặc biệt là tiền tiết kiệm của dân cư. Mặt khác, có một số doanh nghiệp, cá nhân lại thiếu vốn tạm thời hoặc có cơ hội đầu tư nhưng không đủ tiền. Ngân hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình cung cầu về tín dụng.
Với chức năng là trung gian tín dụng, ngân hàng là “cầu nối” giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn; vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay. Thông qua việc thu hút tiền gửi, các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay; từ đó có thể giải quyết mối quan hệ cung cầu tín dụng về cả khối lượng và thời hạn cho vay, là sự cần thiết khách quan phù hợp với sự vận động tiền tệ trong nền kinh tế thị trường. Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất, ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các nguồn vốn nhàn rỗi được tập hợp và đầu tư cho các phương án, dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thực hiện dự án.
Đáp ứng được nhu cầu vốn của dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thực hiện dự án, nghĩa là phương án, dự án đã được giải quyết về vấn đề vốn. Đây là yếu tố khó khăn, quan trọng để biến ý tưởng kinh doanh thành thực tế. Và chính nó giải quyết được các vấn đề kinh tế xã hội như tăng trưởng, phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Không những vậy, với sự tham gia của tín dụng ngân hàng thông qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp tiết kiệm chi phí lưu thông 7 tiền mặt và an toàn trong thanh toán.
Khi lựa chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán hiệu quả, nhanh chóng, giúp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Đồng thời nó cũng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, một đồng vốn bỏ ra, khi quay trở lại sẽ lớn hơn giá trị ban đầu. Thứ ba, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng giúp thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế quốc tế. Ngày nay, trong mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và khu vực đang được phát triển rất đa dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng và chiều sâu.
Đó là nhân tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng. Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Thế nhưng không một tổ chức kinh tế nào, một cá nhân nào có thể có đủ vốn.
Vì vậy, ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ cấp vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa. Chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Quan điểm về chất lượng tín dụng: Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Theo đó, chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng, thỏa mãn yêu cầu hợp lý của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Chất lượng tín dụng được thể theo các góc độ kinh tế sau: Quan điểm đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ Tín dụng phải đáp ứng được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, với số lượng, kỳ hạn, lãi suất và lịch trả nợ hợp lý; thủ tục đơn giản, đảm bảo nguyên tắc tín dụng và tuân thủ pháp luật.