Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM 1. Khái niệm Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của sản xuất hàng hoá. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, ngày nay tín dụng được hiểu theo những khái niệm cơ bản sau: Định nghĩa 1: Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (Hà Thanh Việt, 2019). Định nghĩa 2: Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế hàng hóa. Định nghĩa 3: Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ, hoặc người cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa hoặc dịch vụ dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái hoặc người đi vay). Như vậy, nghĩa của tín dụng có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau.
Những nội dung cơ bản của các định nghĩa này là thống nhất: nếu phản ánh một bên là người cho vay, còn bên kia là người đi vay, quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Việc chuyển giao giá trị hay hiện vật giữa người đi vay và người cho vay có kỳ chuyển giao ngược lại. Lượng giá trị hay hiện vật khi người đi vay hoàn trả cho người cho vay phải lớn hơn lượng họ nhận được ban đầu, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức cho người cho vay (Hà Thanh Việt, 2019). Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm: - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng doanh nghiệp.
e 6 - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng cá nhân. - Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác. Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường. Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiền phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng và phát triển. Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị tiền hoặc hiện vật) từ tổ chức, đơn vị (người) sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nếu xem xét ở gốc độ hẹp hơn, “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”. Theo Luật Các tổ chức tín dụng (2010), Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Từ các phân tích trên có thể đi đến khái niệm: tín dụng khách hàng cá nhân là việc thỏa thuận để khách hàng cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng e 7 nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong phần luận văn này, nghiên Cứu Chỉ Tập Trung Vào Nghiệp Vụ Cho Vay. Theo Điều 2 Thông Tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, định nghĩa về cho vay như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc trưng của tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM Khách hàng cá nhân có những đặc điểm giao dịch như sau (Nguyễn Minh Kiều, 2012): + Mang nặng tâm lý ngại rủi ro khi giao dịch tiền bạc với ngân hàng.
+ Mang nặng tâm lý ngại phiền phức thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. + Ngại giao dịch với ngân hàng sẽ lộ thông tin về thu nhập đối với người có thu nhập cao. + Mặc cảm không dám giao dịch với ngân hàng đối với người có thu nhập thấp hoặc thu nhập không cao. Hiểu được tâm lý giao dịch trên đây của khách hàng sẽ giúp ngân hàng có chính sách thích hợp để thu hút khách hàng cá nhân đến giao dịch với ngân hàng.
Tuy nhiên, hiện nay có một số ngân hàng thương mại Việt Nam chưa thật sự quan tâm lắm đến đối tượng khách hàng cá nhân mà chỉ chú trọng đến khách hàng doanh nghiệp, vì về mặt nghiệp vụ ngân hàng, giao dịch với khách hàng cá nhân không hiệu quả lắm do: + Đặc điểm giao dịch khách hàng cá nhân là có số lượng tài khoản và số hồ sơ giao dịch lớn nhưng doanh số (doanh số cho vay thấp) giao dịch lại thấp. e 8 + Số lượng khách hàng đông nhưng lại phân tán rộng khắp khiến cho việc giao dịch không được thuận tiện. Để giải quyết trở ngại này ngân hàng phải mở nhiều chi nhánh, phòng giao dịch hoặc đầu tư giao dịch Online rất tốn kém. Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM + Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Vay tiêu dùng: Là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, mua xe cơ giới, du học, chữa bệnh, cưới hỏi,… - Vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình gồm bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng.
+ Căn cứ vào thời hạn: Theo Điều 10 Thông Tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay như sau: - Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. - Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm. - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm. + Căn cứ theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thỏa thuận xác định số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều e 9 kỳ hạn trong thời gian cho vay. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. + Căn cứ đảm bảo tín dụng, theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại như sau: - Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng mà theo đó khoản tín dụng được đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng bên thứ ba. Hình thức tín dụng này được áp dụng đối với các hình thức cho vay từng lần, cho vay theo dự án và thường đối với khách hàng không đủ uy tín, do đó khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh.
- Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng mà theo đó khoản tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng bên thứ ba. Hình thức tín dụng này thường áp dụng cho khách hàng truyền thống, có uy tín và số tiền vay không lớn hoặc đối với một số hình thức vay đặc biệt (vay theo lương cán bộ công nhân viên…). Chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM 1. Khái niệm chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM a.
Khái niệm chất lượng và đặc điểm Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi và có nhiều quan niệm khác nhau. Để hiểu được chất lượng tín dụng, trước hết ta cần hiểu được khái niệm chất lượng là gì. Tuỳ theo đối tượng sử dụng mà khái niệm “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định do yêu cầu khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận.
e 10 Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hoá trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng cũng khác nhau. Vậy chất lượng là gì? Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO), chất lượng được định nghĩa như sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan.