Tổng quan nghiên cứu

Kháng kháng sinh hiện đang là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất, đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người và sự phát triển bền vững của hệ thống y tế. Tại Việt Nam, mức độ đề kháng kháng sinh đã ở mức báo động khi mạng lưới giám sát châu Á ghi nhận tỷ lệ kháng penicillin lên tới 71,4% và kháng erythromycin đạt mức kỷ lục 92,1%. Đặc biệt, nhóm trẻ em dưới 72 tháng tuổi là đối tượng có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, thường xuyên mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu hóa tại cộng đồng, nhưng lại đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ thói quen tự ý sử dụng kháng sinh của người chăm sóc.

Xuất phát từ thực tế cấp bách đó, luận văn chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Đinh Hương Tuyết, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hạc Văn Vinh tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, đã thực hiện đề tài: "Thực trạng sử dụng kháng sinh ở người chăm sóc trẻ dưới 72 tháng tuổi tại huyện Võ Nhai và đề xuất giải pháp". Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc trong việc sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 72 tháng tuổi, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nhằm xây dựng hệ thống giải pháp can thiệp khả thi.

Nghiên cứu được triển khai tại 6 xã đại diện thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 11 năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng khoa học chuẩn xác, hỗ trợ các cơ quan quản lý y tế địa phương hoàn thiện chính sách, kiểm soát tình trạng bán thuốc không kê đơn vốn đang chiếm tới 88,3%, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý kê đơn theo đúng Thông tư số 52/2017/TT-BYT và Thông tư số 18/2018/TT-BYT của Bộ Y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM) và Khung lý thuyết Đánh giá Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP Model). Khung lý thuyết này giải thích mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức về mức độ nguy hiểm của bệnh tật, lợi ích của việc tuân thủ chỉ định điều trị và hành vi sử dụng thuốc thực tế của người dân. Tiêu chuẩn đánh giá các biến số kiến thức, thái độ và thực hành được lượng hóa theo thang điểm Bloom chuẩn hóa quốc tế, chia thành 3 mức độ rõ rệt: mức Tốt khi đạt từ 80% tổng điểm trở lên, mức Trung bình đạt từ 60% đến dưới 80%, và mức Yếu khi đạt dưới 60% tổng điểm.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Thuốc kháng sinh: Các hợp chất kháng khuẩn có nguồn gốc tự nhiên, bán tổng hợp hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn đặc hiệu.
  2. Đề kháng kháng sinh: Hiện tượng vi sinh vật biến đổi sinh học để kháng lại tác dụng của các loại thuốc kháng sinh vốn từng tiêu diệt được chúng.
  3. Người chăm sóc trẻ: Cha, mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng, quản lý và quyết định việc chăm sóc y tế, dùng thuốc cho trẻ dưới 72 tháng tuổi.
  4. Kê đơn thuốc ngoại trú hợp lý: Hoạt động chỉ định thuốc của bác sĩ tuân thủ đúng chẩn đoán lâm sàng, đúng liều lượng, đủ thời gian và phù hợp với độ tuổi theo quy chế của Bộ Y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính nhằm đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của dữ liệu:

  1. Nghiên cứu định lượng:
  • Cỡ mẫu: Được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z = 1,96), độ chính xác mong muốn d = 0,05. Cỡ mẫu tối thiểu lý thuyết là 396 đối tượng (đã cộng thêm 10% dự phòng sai số). Quá trình điều tra thực tế đã thu thập thành công 410 người chăm sóc trẻ dưới 72 tháng tuổi.
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu nhiều giai đoạn. Đầu tiên, chọn chủ đích 6 xã đại diện cho các vùng địa lý của huyện Võ Nhai gồm: La Hiên và Cúc Đường (khu vực phía Bắc), Tràng Xá và Liên Minh (khu vực phía Nam), Phú Thượng và Lâu Thượng (khu vực trung tâm). Tiếp theo, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn từ danh sách quản lý trẻ em dưới 72 tháng tuổi tại mỗi xã, chọn đều 68 đến 69 đối tượng trên mỗi địa bàn xã có quy mô trung bình khoảng 5.500 dân.
  • Phương pháp phân tích: Dữ liệu được mã hóa, nhập liệu độc lập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm thống kê y học SPSS 22.0. Lý do lựa chọn kiểm định Chi-square ($\chi^2$) và tỷ số chênh OR nhằm kiểm tra chính xác mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) giữa các biến số nhân khẩu học, kinh tế, thị trường dược phẩm với hành vi thực hành sử dụng thuốc.
  1. Nghiên cứu định tính:
  • Thực hiện 05 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan trọng yếu bao gồm: Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện, Trưởng khoa Dược, Lãnh đạo Phòng Y tế, Trưởng trạm Y tế xã và đại diện người chăm sóc trẻ.
  • Tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm tập trung gồm: 10 cán bộ y tế kê đơn tại trạm y tế, 10 người chăm sóc trẻ sử dụng kháng sinh theo đơn và 10 người chăm sóc trẻ tự ý sử dụng kháng sinh không theo đơn. Toàn bộ nội dung được ghi âm, gỡ băng và phân tích theo chủ đề.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát 410 người chăm sóc trẻ dưới 72 tháng tuổi tại huyện Võ Nhai đã chỉ ra bức tranh thực trạng với nhiều số liệu đáng chú ý:

Thứ nhất, tồn tại khoảng trống kiến thức vô cùng lớn về thuốc kháng sinh. Tỷ lệ người chăm sóc có mức kiến thức chung đạt loại tốt chỉ chiếm vỏn vẹn 0,5%, mức trung bình chiếm 13,2%, trong khi có tới 86,3% người chăm sóc bị xếp loại yếu. Chỉ có 23,7% người tham gia hiểu đúng kháng sinh là thuốc có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn, và chỉ 29,3% biết rằng việc dùng kháng sinh sai cách là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hiện tượng kháng thuốc.

Thứ hai, thái độ của người dân nhìn chung tích cực nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều định kiến sai lầm. Tỷ lệ người có thái độ chung đạt mức tốt là 58,0%, mức trung bình là 28,0% và mức yếu là 14,0%. Dù có 97,3% đồng ý rằng dùng kháng sinh cần có chỉ định của bác sĩ, nhưng vẫn có tới 25,9% người chăm sóc giữ quan điểm nên dùng lại đơn thuốc cũ khi trẻ mắc bệnh tương tự lần trước, và 34,4% thừa nhận luôn chuẩn bị sẵn thuốc kháng sinh trong tủ thuốc gia đình để tiện dùng.

Thứ ba, thực hành sử dụng kháng sinh chưa chuẩn mực và tiềm ẩn nguy cơ tai biến. Tỷ lệ người chăm sóc có thực hành đạt mức tốt chỉ chiếm 16,3%, mức trung bình chiếm 59,0% và mức yếu chiếm 24,7%. Có 10,5% người chăm sóc tự ý dừng thuốc ngay khi trẻ vừa hết triệu chứng mà không uống đủ đợt điều trị. Tỷ lệ trẻ gặp tác dụng không mong muốn khi dùng kháng sinh là 4,1% (17 trẻ), trong đó biến chứng tiêu chảy chiếm 52,9% và mẩn ngứa chiếm 29,4%.

Thứ tư, tình trạng mua bán kháng sinh không đơn diễn ra tràn lan. Có 57,3% người dân phản ánh sự xuất hiện phổ biến của các quầy thuốc tư nhân trên địa bàn, và có tới 88,3% người chăm sóc khẳng định có thể dễ dàng mua được thuốc kháng sinh tại các cơ sở này mà không cần đơn của bác sĩ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng kiến thức yếu kém (86,3%) tương phản rõ rệt với thái độ tích cực (58,0% tốt) cho thấy sự đứt gãy giữa nhận thức lý thuyết và hành vi ứng dụng thực tế. Hiện tượng này có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh ba trục Kiến thức - Thái độ - Thực hành, giúp làm nổi bật khoảng cách chênh lệch cần can thiệp.

Phân tích sâu về các yếu tố tương quan cho thấy:

  • Trình độ học vấn có ảnh hưởng quyết định: Nhóm người chăm sóc có học vấn từ trung học phổ thông trở lên có tỷ lệ thực hành tốt đạt 22,5%, cao hơn gấp hai lần so với nhóm có học vấn dưới trung học phổ thông chỉ đạt 11,2% ($p < 0,05$).
  • Điều kiện kinh tế và nghề nghiệp: Người chăm sóc thuộc hộ đủ ăn có tỷ lệ thực hành tốt là 18,6%, vượt trội so với mức 5,6% của nhóm hộ nghèo và cận nghèo ($p < 0,05$). Cán bộ viên chức có tỷ lệ thực hành đúng đạt 25,0%, trong khi nhóm làm nông nghiệp chỉ đạt 12,9% ($p < 0,05$).
  • Tác động của truyền thông y tế cơ sở: Tại các xã có trạm y tế thường xuyên tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe, tỷ lệ người dân thực hành tốt đạt 21,0%, cao hơn đáng kể so với mức 13,2% ở những nơi hiếm khi hoặc không bao giờ tổ chức truyền thông ($p < 0,05$).

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây tại Bắc Ninh của Nguyễn Văn Huy khi ghi nhận tỷ lệ mua kháng sinh không đơn dao động từ 64,78% đến 67,75%, cũng như nghiên cứu của Rie Nakajima tại Mông Cổ với 48,0% khách hàng mua kháng sinh không có chỉ định y khoa. Điều này khẳng định thói quen tự điều trị và việc buông lỏng quản lý mạng lưới bán lẻ thuốc là vấn đề mang tính hệ thống ở khu vực nông thôn và miền núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ, có tính khả thi cao nhằm cải thiện chất lượng sử dụng kháng sinh:

  1. Tăng cường thanh tra và siết chặt kỷ cương bán thuốc theo đơn:
  • Cơ quan chủ quản: Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng Y tế huyện Võ Nhai và chính quyền địa phương.
  • Hành động cụ thể: Tiến hành kiểm tra định kỳ và đột xuất 100% quầy thuốc, nhà thuốc tư nhân trên địa bàn; xử phạt nghiêm minh theo Nghị định 117/2020/NĐ-CP đối với hành vi bán thuốc kháng sinh không có đơn thuốc của bác sĩ.
  • Mục tiêu: Giảm tỷ lệ người dân mua kháng sinh không đơn từ 88,3% xuống dưới 30% trong lộ trình 2021 - 2023.
  1. Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ y tế cơ sở:
  • Cơ quan chủ quản: Trung tâm Y tế huyện Võ Nhai.
  • Hành động cụ thể: Tổ chức các khóa đào tạo y khoa liên tục (CME) hàng quý cho 100% cán bộ khám chữa bệnh tại 6 trạm y tế xã; chuẩn hóa quy trình chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế; chấm dứt tình trạng kê đơn bao vây.
  • Thời gian thực hiện: Triển khai liên tục trong giai đoạn 2021 - 2025.
  1. Đổi mới phương thức truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng:
  • Cơ quan chủ quản: Trạm Y tế các xã phối hợp với Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên.
  • Hành động cụ thể: Thiết kế các tài liệu trực quan, tờ rơi, tranh ảnh và phát thanh định kỳ 2 lần/tuần trên hệ thống loa truyền thanh xã; lồng ghép nội dung tác hại của kháng kháng sinh vào các buổi sinh hoạt thôn bản.
  • Mục tiêu: Nâng tỷ lệ người chăm sóc có kiến thức tốt từ 0,5% lên tối thiểu 45% sau 24 tháng can thiệp.
  1. Thiết lập mạng lưới tư vấn dược và giám sát kê đơn ngoại trú:
  • Cơ quan chủ quản: Khoa Dược - Trung tâm Y tế huyện Võ Nhai.
  • Hành động cụ thể: Triển khai phần mềm quản lý kê đơn thuốc điện tử liên thông từ huyện đến trạm y tế xã; bắt buộc nhân viên quầy thuốc tư vấn kỹ lưỡng về liều lượng và tác dụng phụ cho người mua thuốc theo Thông tư 52/2017/TT-BYT.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh dịch tễ học chân thực về hành vi sử dụng thuốc tại khu vực miền núi, làm căn cứ khoa học để hoàn thiện quy chế giám sát nhà thuốc tư nhân và xây dựng kế hoạch hành động phòng chống kháng thuốc tuyến cơ sở.

  2. Bác sĩ nhi khoa và cán bộ y tế trạm xã: Giúp nhân viên y tế hiểu rõ tâm lý, các định kiến sai lầm phổ biến của người chăm sóc trẻ (như việc tự ý dừng thuốc khi hết sốt, tích trữ kháng sinh tại nhà), từ đó cải thiện kỹ năng giao tiếp, tư vấn và tăng cường sự tuân thủ điều trị của gia đình bệnh nhi.

  3. Dược sĩ và chủ các cơ sở kinh doanh dược phẩm: Nâng cao nhận thức về trách nhiệm chuyên môn và y đức trong việc tuân thủ quy chế kê đơn, hướng dẫn tận tâm cho người mua về cách phòng tránh tác dụng phụ và hiểm họa khôn lường từ việc lạm dụng kháng sinh cho trẻ nhỏ.

  4. Học viên sau đại học, sinh viên và nhà nghiên cứu y tế công cộng: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính), kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên tại cộng đồng, và phương pháp xử lý dữ liệu y học thực chứng bằng công cụ SPSS.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nhận thức của người chăm sóc trẻ về thuốc kháng sinh tại huyện Võ Nhai hiện nay ra sao? Khảo sát thực tế chỉ ra rằng nhận thức của người chăm sóc còn rất hạn chế khi có tới 86,3% đối tượng xếp loại kiến thức yếu và chỉ 0,5% đạt mức tốt. Đa phần người dân (76,3%) chưa hiểu đúng bản chất kháng sinh chỉ có tác dụng diệt vi khuẩn chứ không có tác dụng đối với các bệnh do vi rút gây ra.

  2. Vì sao tỷ lệ người dân dễ dàng mua kháng sinh không cần đơn lại lên tới 88,3%? Nguyên nhân chủ yếu do mạng lưới quầy thuốc tư nhân phát triển nhanh nhưng công tác thanh tra, giám sát chế tài xử phạt còn lỏng lẻo. Bên cạnh đó, áp lực lợi nhuận kinh doanh khiến người bán sẵn sàng bán thuốc theo yêu cầu của người dân mà không đòi hỏi đơn thuốc từ bác sĩ.

  3. Những yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến việc sử dụng kháng sinh đúng cách cho trẻ? Nghiên cứu khẳng định trình độ học vấn (từ cấp ba trở lên), điều kiện kinh tế gia đình (mức đủ ăn), mức độ kiến thức - thái độ đúng và tần suất trạm y tế tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe là những yếu tố có mối liên quan thuận chiều, có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) tới hành vi thực hành đúng.

  4. Trẻ dưới 72 tháng tuổi gặp những tác dụng phụ nào phổ biến nhất khi dùng kháng sinh? Tỷ lệ ghi nhận biến cố bất lợi là 4,1% (17 trẻ), trong đó triệu chứng rối loạn đường tiêu hóa như tiêu chảy chiếm tỷ lệ áp đảo với 52,9%, tiếp theo là dị ứng, mẩn ngứa ngoài da chiếm 29,4% và nôn mửa chiếm 11,8%.

  5. Làm thế nào để thay đổi triệt để thói quen tự mua kháng sinh cho trẻ của các bà mẹ? Cần kết hợp đồng bộ hai mũi nhọn: kiểm soát chặt chẽ điểm bán thuốc tư nhân bằng chế tài pháp lý nghiêm khắc, đồng thời đẩy mạnh truyền thông trực tiếp thông qua cán bộ y tế cơ sở và hệ thống phát thanh xã nhằm nâng cao hiểu biết của người dân.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết khoảng trống kiến thức lớn của người chăm sóc trẻ dưới 72 tháng tuổi tại huyện Võ Nhai với 86,3% xếp loại yếu và thực hành tốt chỉ đạt 16,3%.
  2. Tình trạng mua bán kháng sinh không kê đơn diễn ra hết sức phổ biến với 88,3% người dân dễ dàng tiếp cận thuốc tại các quầy thuốc tư nhân.
  3. Luận văn đã chứng minh mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, hoạt động truyền thông của trạm y tế với thực hành sử dụng kháng sinh an toàn.
  4. Hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp toàn diện từ chính sách, đào tạo chuyên môn, truyền thông đại chúng đến quản lý dược đã được xây dựng bài bản và có tính ứng dụng cao.
  5. Lộ trình hành động giai đoạn 2021 - 2025 cần tập trung nguồn lực kiểm soát bán lẻ thuốc và nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm ngăn chặn hiểm họa kháng kháng sinh, bảo vệ an toàn sức khỏe cho trẻ em vùng cao.