O Ụ V OT O Y TẾ Ọ T N UY N TRƢỜN Ọ Y - ƢỢ N UYỄN N ƢƠN TUYẾT T Ự TR N SỬ ỤN K N SN Ở N ƢỜ ĂM SÓ TRẺ ƢỚ 72 T N TUỔ T UYỆN VÕ N A V Ề XUẤT Ả P P huyên ngành: Y tế ông cộng Mã số: CK 62 72 76 01 LUẬN VĂN SỸ CHUYÊN KHOA II ƢỚN ẪN K OA Ọ : P S.TS ạc Văn Vinh THÁI NGUYÊN – NĂM 2020 LỜ AM OAN Tôi là Nguyễn Đinh Hương Tuyết xin cam đoan: 1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này. Thái Nguyên, ngày 8 tháng 12 năm 2020 Ngƣời viết cam đoan Nguyễn inh ƣơng Tuyết LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, đóng góp, giúp đỡ và động viên của tất cả thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình. Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. Hạc Văn Vinh - người Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc và tập thể cán bộ nhân viên Trung tâm Y tế Võ Nhai và các trạm y tế xã: La Hiên, Cúc Đường, Lâu Thượng, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong hội đồng khoa học đã đã tạo điều kiện, chỉ ra những ý kiến qúy báu cho luận văn và động viên tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi cả về tinh thần và vật chất trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Thái Nguyên, ngày 8 tháng 12 năm 2020 Ngƣời viết cam đoan Nguyễn inh ƣơng Tuyết AN MỤ Ữ V ẾT TẮT CBYT : Cán bộ y tế KKS : Kháng kháng sinh NCS : Ngƣời chăm sóc PVS : Phỏng vấn sâu SDKS : Sử dụng kháng sinh THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông TLN : Thảo luận nhóm TT-GDSK : Truyền thông giáo dục sức khỏe MỤ LỤ LỜI CAM ĐOAN. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT. DANH MỤC BẢNG. DANH MỤC BIỂU ĐỒ.
1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Thông tin chung về thuốc kháng sinh. Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng kháng sinh.
Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng sử dụng kháng sinh. 18 Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tƣợng nghiên cứu. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Chỉ số nghiên cứu. Tiêu chuẩn đánh giá biến số nghiên cứu. Phƣơng pháp xử lý số liệu.
Đạo đức nghiên cứu. 27 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Đặc điểm chung của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Thực trạng sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, năm 2019.
Yếu tố ảnh hƣởng đến sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi và đề xuất giải pháp. 38 Chƣơng 4: BÀN LUẬN. Đặc điểm chung của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Thực trạng sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, năm 2019.
Yếu tố ảnh hƣởng đến sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi và đề xuất giải pháp. 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO. AN MỤ ẢN Bảng 3. Đặc điểm học vấn và dân tộc của NCS trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Đặc điểm kinh tế và nghề nghiệp của NCS trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Kiến thức về SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Thái độ về SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Thực hành về SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Tỉ lệ tác dụng không mong muốn khi sử dụng kháng sinh. Đặc điểm cơ sở cung cấp kháng sinh trên địa bàn nghiên cứu. Đặc điểm truyền thông giáo dục sức khỏe về sử dụng kháng sinh 37 Bảng 3. Ảnh hƣởng của yếu tố nhân khẩu học với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Ảnh hƣởng của nghề nghiệp, kinh tế với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Ảnh hƣởng của kiến thức, thái độ với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Ảnh hƣởng của tác dụng không mong muốn với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Ảnh hƣởng của cơ sở mua thuốc với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Ảnh hƣởng của việc tin tƣởng trình độ cán bộ y tế địa phƣơng với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Ảnh hƣởng của việc tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe với thực hành SDKS ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. 41 AN MỤ ỂU Ồ Biểu đồ 3. Phân bố nhóm tuổi của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Tỉ lệ phƣơng tiện truyền thông của gia đình. Phân bố tỉ lệ giới tính của trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Tỉ lệ mức độ kiến thức chung về sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. Tỉ lệ mức độ thái độ chung về sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi.
Tỉ lệ mức độ thực hànhchung về sử dụng kháng sinh ở ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi. 35 AN MỤ P Hộp 3. Ảnh hƣởng của chính sách với sử dụng kháng sinh. Ảnh hƣởng của hệ thống y tế với sử dụng kháng sinh.
Ảnh hƣởng của chất lƣợng nhân lực y tế với sử dụng kháng sinh. Ảnh hƣởng về nhận thức của ngƣời dân với sử dụng kháng sinh. Các ảnh hƣởng khác đối với sử dụng kháng sinh. Giải pháp về cơ chế chính sách.
Giải pháp về hệ thống y tế. Giải pháp về nhân lực y tế. Giải pháp về truyền thông. Các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lƣợng SDKS.
49 1 ẶT VẤN Ề Kháng sinh là những chất kháng khuẩn, đƣợc tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [8]. Ở Việt Nam, việc tự ý sử dụng kháng sinh là khá phổ biến, mặc dù theo Luật Dƣợc Việt Nam, đó là sự vi phạm luật khi sử dụng kháng sinh không có đơn. Việc tự mua thuốc kháng sinh một cách dễ dàng để tự điều trị không cần đơn của ngƣời dân cùng với sự ủng hộ nhiệt tình của những ngƣời bán thuốc chỉ cần quan tâm tới lợi nhuận [22]. Ngƣời bán thuốc sẵn sàng bán thuốc phải kê đơn mà không cần đơn.
Còn ngƣời dân thì sử dụng theo thói quen, theo sự mách bảo của những ngƣời không có chuyên môn, thời gian dùng thuốc không đúng theo nguyên tắc. từ đó dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh và tai biến do sử dụng kháng sinh ngày càng gia tăng [22]. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy (2003) về sử dụng kháng sinh của ngƣời dân tại huyện Tiên Du - Bắc Ninh cho thấy việc sử dụng kháng sinh thuộc danh mục thuốc phải kê đơn và bán theo đơn mà không cần đơn chiếm tới 64,78% ở thị trấn Lim và 67,75% ở xã Phú Lâm [18]. Nghiên cứu của Trần Thế Hoàng và cs (2018) thấy tỉ lệ ngƣời dân thực hành sử dụng kháng sinh theo đơn bác sĩ 40,6%.
Tỉ lệ các đối tƣợng nghiên cứu nhận thấy dễ dàng mua kháng sinh chiếm 93,4%[15]. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài (2018) cho kết quả: chỉ có 44,3% bà mẹ có kiến thức tốt về sử dụng kháng sinh an toàn hợp lý cho trẻ dƣới 5 tuổi; chỉ có 46,9% bà mẹ có thái độ tích cực [14]. Tuy nhiên, một vấn đề cực kỳ quan trọng đó là việc tự sử dụng kháng sinh cho trẻ em, trong khi trẻ em là đối tƣợng thƣờng xuyên bị các bệnh nhiễm khuẩn tại cộng đồng. Việc sử dụng kháng sinh cho trẻ không đúng cách sẽ tạo ra vi khuẩn siêu kháng thuốc; hạn chế sự phát triển của hệ miễn dịch ở trẻ em, trẻ dễ mắc bệnh, tái bệnh; tiêu diệt cả vi khuẩn có lợi gây loạn khuẩn đƣờng ruột; có nguy cơ mắc tác dụng phụ trầm trọng; gia tăng bệnh 2 hen suyễn, dị ứng, tăng nguy cơ mắc bệnh tự miễn đƣờng ruột [5].
Nghiên cứu của Hoàng Thị Huế và cs (2013) thấytrong số trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp tại khoa Nhi - Bệnh viện Trung ƣơng Thái Nguyên thì có 71,0% trẻ nhi đã sử dụng kháng sinh trƣớc khi đến viện, trong đó có 28% tự mua kháng sinh [16]. Nhằm quản lý tốt vấn đề sử dụng kháng sinh cho trẻ dƣới 72 tháng tuổi, Bộ Y tế đã ban hành Thông tƣ số 52/2017/TT-BYT và Thông tƣ số 18/2018/TT-BYT quy định về đơn thuốc và kê đơn thuốc điều trị ngoại trú cho trẻ em dƣới 72 tháng [9], [10].Thực tế do lợi nhuận, do quản lý và giám sát có thể còn chƣa tốt mà nhiều ngƣời chăm sóc trẻ vẫn mua thuốc không cần kê đơn và vấn đề áp dụng thông tƣ có thể còn chƣa đi sâu vào thực tế. Điều này sẽ làm cho việc sử dụng kháng sinh của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi tại một số xã có thể còn nhiều bất cập. Việc tìm hiểu thực trạng sử dụng kháng sinh của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi tại đây sẽ cung cấp bằng chứng góp phần nâng cao hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em và phát triển hệ thống y tế trên địa bàn.
Câu hỏi đặt ra cho chúng tôi là: Thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh của ngƣời chăm sóc trẻ dƣới 72 tháng tuổi hiện nay ra sao?