CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của nhân lực trong tổ chức 1. Khái niệm nhân lực Tác giả Phạm Đức Thành cho rằng “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực” thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong lao động sản xuất [9, tr. Nhân lực (theo Wikipedia) bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp [15, tr.1] Như vậy, nhân lực được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu.
Cấu thành nhân lực là số lượng nhân lực bao gồm tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động của họ. Chất lượng nhân lực: thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Hiện nay hình thành nên nhiều khái niệm NNL với nhiều cách hiểu hay quan điểm khác nhau như: Theo Liên Hợp Quốc thì “Nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [20, tr.1] Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Nhân lực trong tổ chức Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu, nhân lực trong doanh nghiệp là nguồn lực con người, là vốn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm những người đang làm việc thực tế trong doanh nghiệp và nhân lực tiềm năng mà doanh nghiệp đang hướng tới trong kế hoạch hóa nhân lực.7] Theo tác giả Bùi Văn Nhơn thì: “Nhân lực trong tổ chức là lực lượng lao động của từng tổ chức, là số người có trong danh sách của tổ chức, do tổ chức trả lương” [8, tr.72] Đối với bất kì tổ chức, doanh nghiệp nào, NL là nòng cốt cơ bản không thể thiếu được trong mọi hoạt động. Nếu tổ chức quan tâm tới công tác nhân sự thì đó là một trong những chìa khóa dẫn đến thành công của tổ chức. Như vậy, nhân lực trong tổ chức được hiểu là nguồn lực con người, đó là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, làm việc bằng trí lực, thể lực và tâm lực trong tổ chức. Chất lượng nhân lực Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu, chất lượng nhân lực có thể được hiểu như sau: “ Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân lực” [1, tr.18] Theo tác giả Vũ Thị Mai chất lượng nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của NLĐ với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [27, tr.1] Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm về chất lượng NL trong tổ chức như sau: chất lượng nhân lực là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá về mức độ đáp ứng, khả năng làm việc của người lao động qua các tiêu chí: thể lực, trí lực, tâm lực, cơ cấu lao động của nhân lực so với yêu cầu công việc cụ thể đặc trưng của tổ chức.
7 Nâng cao chất lượng NL là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn, hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ. Nâng cao chất lượng NL chính là tổng thể các biện pháp nhằm nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực. Biến đổi chất lượng nhân lực theo hướng phát triển một cách hợp lý về quy mô (số lượng), trình độ (chất lượng) và cơ cấu để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của tổ chức. Đặc điểm nhân lực trong tổ chức Thứ nhất, sức lao động nằm trong cơ thể sống của con người Muốn cho người lao động có sức lao động tốt và ngày càng tốt thì cần: - Về tiền lương: Trả lương theo định kì sao cho người lao động có đủ tiền chi tiêu thỏa mãn các nhu cầu của mình.
- Về môi trường: Nhà quản trị cầng nhận thức đúng và tạo ra môi trường lao động hợp tác sáng tạo; nhu cầu của người lao động phải được thỏa mãn thông qua hoạt động lao động tập thể. Thứ hai, không giống các nguồn lực khác, nhân lực có đặc điểm rất cơ bản là khi sử dụng, trình độ của người lao động có thể thay đổi theo nhiều hướng khác nhau Thứ ba, nhận thức của nhà quản trị về vai trò của con người ngày càng thay đổi - Có những nhà quản trị coi nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên vô giá, họ sẽ ứng xử theo nguyên lí tôn trọng con người, nghĩ ra các giải pháp để phát huy sức sáng tạo của con người. - Cũng có những nhà quản trị không coi nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng, họ đối xử với nguồn nhân lực như với các nguồn lực khác, doanh nghiệp đó vẫn có thể tồn tại song khó có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh với kết quả và hiệu quả cao. 8 - Lại có những nhà quản trị coi thường nguồn nhân lực, họ sẽ ứng xử theo nguyên lí không tôn trọng con người, tiền lương luôn là giải pháp cuối cùng mà họ tính đến.
Thứ tư, thị trường lao động là thị trường cạnh tranh Thị trường lao động là nơi doanh nghiệp và người có sức lao động gặp nhau và thỏa thuận với nhau về việc doanh nghiệp sử dụng sức lao động của người lao động. Trong cơ chế thị trường, thị trường lao động là thị trường cạnh tranh: cạnh tranh sử dụng lao động và trạnh tranh tìm kiếm công ăn việc làm. Vai trò của nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức Nguồn nhân lực là nguồn lực chính tạo nên sự phát triển của tổ chức. Nguồn nhân lực được các nhà chiến lược kinh doanh xem là nguồn lực quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực của tổ chức.
Đơn giản là vì các nhân viên có thể nâng cao trình độ nghiệp vụ từ đó làm tăng quy mô cạnh tranh của tổ chức theo thời gian, còn các nguồn lực khác không thể làm được như vậy. Ngoài ra, nhân lực tốt đem lại khả năng cạnh tranh cho tổ chức, làm tăng sự hài lòng của khách hàng đối với tổ chức. Chính vì vậy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là một công tác qau trọng trong quá trình thực heien mục tiêu của tổ chức 1. Nội dung nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức trong đơn vị hành chính sự nghiệp 1.
Quy hoạch cán bộ, công chức Quy hoạch cán bộ công chức là quá trình sắp xếp, bố trí cán bộ công chức có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp vào các vị trí công việc trong tương lai để đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công việc trong tương lai của tổ chức. Quy hoạch cán bộ công chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo tổ chức. Theo đó nhà lãnh đạo sẽ căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ vủa TW giao để từ đó lập kế hoạch, dự báo, xây dựng nguồn lực con người nhằm đảm bảo hoàn thành tố nhiệm vụ được giao. Những yêu cầu đối với công tác quy hoạch cán bộ, công chức: 9 Để công tác quy hoạch cán bộ công chức đạt hiệu quả cao cần: 1.
Phải xem xét, đánh giá đúng người, đúng việc trước khi đưa cán bộ công chức vào quy hoạch 2. Quy hoạch cán bộ công chức phải công khai, xem xét các nguồn lực cán bộ công chức từ bên trong và bên ngoài tổ chức. Cán bộ được quy hoạch không cần đáp ứng cả hai điều kiện “cần” và “đủ” cho công việc được quy hoạch. Vì cán bộ được quy hoạch còn trải qua quá trình đào tạo mới có thể thỏa mãn yêu cầu “đủ” của công việc được giao.
Công tác quy hoạch cần đáp ứng được số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức để phục vụ cho công việc được giao 1. Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Theo quy định tại Khoản 12 Điều 2 Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ, thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, luân chuyển công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định 3268/QĐ-BGDĐT năm 2018 thì: Bổ nhiệm lại là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý tiếp tục giữ chức vụ đang đảm nhiệm khi hết thời hạn bổ nhiệm. Công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức Tuyển dụng cán bộ, công chức là quá trình bổ sung cả về số lượng và chất lượng cán bộ công chức để đáp ứng nhu cầu nhân lực của tổ chức. Tuyển dụng là một quá trình cần phải thực hiện thường xuyên và cần thiết để đẩm bảo cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức Tuyển dụng là khâu quan trọng nhất, quyết định tới năng lực đội ngũ cán bộ, công chức.
Nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt thì sẽ tuyển dụng được những cá nhân có năng lực, phẩm chất tốt, đóng góp tích cực cho tổ chức. Ngược lại, nếu công tác tuyển dụng không được quan tâm thì không tuyển chọn được những người có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để thực hiện nhiệm vụ, gây ảnh hưởng tới năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. 10 Do đặc thù của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay không thông qua tuyển dụng mà được bổ nhiệm trực tiếp vào công việc được giao. Do vậy, công tác tuyển dụng có ảnh hưởng lớn tới năng lực đội ngũ CB, CC.