phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất của Công ty TNHH VietNergry. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất của Công ty TNHH VietNergry. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC TRỰC TIẾP SẢN UẤT CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về nhân lực và chất lượng nhân lực trực tiếp sản xuất 1.
Nhân lực và nhân lực trực ti p sản xuất Theo Đỗ Minh Quyên và Nguyễn Thị Doan thì: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [10, tr. Nhân lực còn đƣợc hiểu là lực lƣợng lao động với kỹ năng tƣơng ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng và xã hội. Vậy nhân lực là lực lƣợng ngƣời lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trƣờng có nhu cầu. - Nhân lực trực tiếp sản xuất: Là ngƣời trực tiếp tiến hành các hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm, trực tiếp thực hiện các công việc, nhiệm vụ nhất định.
Đặc điểm của nhân lực trực tiếp sản xuất Nhân lực trực tiếp thƣờng là ngƣời lao động chân tay, họ phải trực tiếp thao tác sáng tạo ra sản phẩm và dịch vụ, họ phải tiêu hao sức cơ bắp là chủ yếu và một phần sức trí não; cho nên thƣờng họ bộc trực, thẳng thắn, suy nghĩ ít phức tạp, mơ ƣớc rất cụ thể. Họ thƣờng có thói quen làm việc dƣới sự quản lí của con ngƣời khác; nếu cuộc sống no đủ họ sẽ thấy hạnh phúc và không mong ƣớc gì lớn hơn. Họ sẽ chỉ trở thành lực lƣợng chống đối những ngƣời lãnh đạo khi ngƣời lãnh đạo chèn ép, bóc lột họ quá nặng nề, dồn họ vào ngõ cụt, vi phạm quá sức chịu đựng đối với nhân cách của họ. Nhân lực trực tiếp phải tiêu hao sức lực cơ bắp một cách trực tiếp, kéo dài và liên tục trong thời gian lao động; Thêm vào đó họ phải lo toan cuộc sống và với mức thu nhập thƣờng là loại thấp của xã hội nên ít có dịp tiếp cận 9 với các luồng thông tin phong phú của xã hội, đặc biệt là các thông tin thuộc những vấn đề của thƣợng tầng xã hội; cho nên họ dễ có cuộc sống giản đơn, cam chịu, họ sống và làm việc phần lớn theo quán tính.
Nhân lực trực tiếp sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp, tại các doanh nghiệp lớn phải làm việc theo dây chuyền với qui mô lớn và hiện đại nên tính tổ chức, tính tập thể của họ khá cao; tính tƣơng thân tƣơng ái của họ rất lớn mà các giai tầng khác khó có thể có đƣợc. Nhân lực trực tiếp sản xuất thƣờng có một kẻ thù vô hình là sự phát triển của khoa học và công nghệ. Chính do khoa học công nghệ phát triển sẽ dẫn tới việc Nhân lực trực tiếp sản xuất dễ bị đào thải khỏi guồng máy công việc, dễ mất việc làm vì máy móc thiết bị tự động thay thế chỗ họ, loại bỏ họ. Ngoài các việc đặc điểm tâm lí chung của Nhân lực trực tiếp sản xuất, ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực, do đặc thù lịch sử và truyền thống dân tộc, lại có những đặc điểm riêng mà nhà quản trị cần nghiên cứu để có biện pháp khai thác sử dụng về tôn giáo, về dân tộc, về lịch sử, về vùng miền nơi sinh trƣởng ….
Chất lượng nhân lực trực ti p sản xuất Theo Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học tổ chức Nhà nƣớc, dựa trên khái niệm: “Nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công đạt được của mỗi tổ chức” thì: “chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nhân lực.” Theo Bùi Văn Nhơn “Chất lƣợng nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội” trong đó: - Thể lực của nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. 10 - Trí lực của nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của ngƣời lao động. - Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao… - Đứng trên cách tiếp cận vi mô doanh nghiệp thì chất lƣợng nhân lực đƣợc đánh giá thông qua các tiêu thức: Thể lực, trí lực, tâm lực phẩm chất đạo đức.
Nhƣ vậy khái niệm chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất đƣợc hiểu: là trạng thái nhất định của nhân lực trực tiếp sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nhân lực; chất lƣợng nhân lực biểu hiện ở 3 yếu tố: thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức tâm lực của ngƣời lao động. Chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái thể lực, trí lực, tâm lực. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nhân lực trực tiếp sản xuất với tƣ cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Trong đó: - Thể lực con ngƣời chịu ảnh hƣởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.
Một cơ thể khỏe mạnh thích nghi với môi trƣờng sống thì năng lƣợng do nó sinh ra sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con ngƣời. Phải có thể lực con ngƣời mới trở thành lực lƣợng lao động và tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. - Trí lực đƣợc xác định bởi trí thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tƣ duy xét đoán của mỗi con ngƣời.
Trí lực thực tế là hệ thống thông tin đã đƣợc xử 11 lý và lƣu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con ngƣời, đƣợc thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó đƣợc hình thành phát triển thông qua quá trình giáo dục, đào tạo cũng nhƣ trong quá trình lao động sản xuất. - Tâm lực phẩm chất, đạo đức là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nhân lực bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thành tƣ tƣởng, đạo đức và nghệ thuật….gắn liền với truyền thống văn hóa. Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, là tiền đề phát triển của nhau.
Muốn nâng cao chất lƣợng nhân lực phải nâng cao cả ba mặt: thể lực, trí lực và tâm lực. Tuy nhiên ở mỗi yếu tố trên lại liên quan đến một lĩnh vực rất rộng lớn. Thể lực và tình trạng sức khỏe gắn với dinh dƣỡng, y tế, chăm sóc sức khỏe. Trí lực gắn liền với lĩnh vực giáo dục vào đào tạo.
Còn tâm lực, phẩm chất đạo đức chịu ảnh hƣởng của truyền thống văn hóa dân tộc, thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Nhƣ vậy, chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất gồm những yếu tố cơ bản sau đây tạo nên: thể lực, trí lực và tâm lực. Cho đến nay, vẫn chƣa có một tiêu chí tổng hợp chung có thể đánh giá toàn diện chất lƣợng nhân lực, mà thông thƣờng phải đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí phản ánh từng khía cạnh đặc trƣng của chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất. Chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất là khái niệm có tính không gian và thời gian, tức là những yếu tố để làm tiêu chí đánh giá chất lƣợng nhân lực ở mức độ cao hay thấp, đáp ứng nhu cầu phát triển ít hay nhiều đều phải căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và nhận thức con ngƣời, căn cứ vào những mục tiêu cần đạt đƣợc và mức độ đáp ứng nhu cầu trong từng trƣờng hợp và bối cảnh cụ thể.
Nâng cao chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản xuất là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao 12 chất lƣợng từng lao động trực tiếp đáp ứng đòi hỏi về nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Các hoạt động nâng c o chất lƣợng nhân lực trực tiếp sản uất 1. Hoạc định nhân lực trực ti p sản xuất Hoạch định nguồn nhân lực là nội dung, nhiệm vụ quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đƣa ra các chính sách và thực hiện các chƣơng trình, hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ lao động, với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lƣợng và hiệu quả cao.
Quá trình hoạch định nguồn nhân lực cần đƣợc thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với quá trình hoạch định, thực hiện các chiến lƣợc và chính sách kinh doanh. Thông thƣờng quá trình hoạch định đƣợc thực hiện thông qua các bƣớc sau: - Phân tích môi trƣờng, xác định mục tiêu và chiến lƣợc phát triển, kinh doanh cho doanh nghiệp. - Phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, đề ra chiến lƣợc nguồn lực phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh doanh. - Dự báo khối lƣợng công việc đối với các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định khối lƣợng công việc và tiến hành phân tích công việc đối với các mục tiêu, kế hoạch ngắn hạn).
- Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực đối với các mục tiêu, kế hoạch dài hạn, trung hạn) hoặc xác định nhu cầu nguồn nhân lực đối với các mục tiêu kế hoạch ngắn hạn).