Chương 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH Thiệu Đô. Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH Thiệu Đô.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nguồn nhân lực Giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) nêu: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [8; tr 7]. Nhân lực thể hiện ra ngoài bởi khả năng làm việc, sức khỏe của thân thể, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, lòng tin, nhân cách… của từng con người.
Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” (human resources) hay “nguồn lực con người” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ) đó là nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi thế giới tự nhiên và trong quá trình lao động, nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Khi khoa học quản trị nguồn nhân lực phát triển, khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng nhiều hơn vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trên thực tế khái niệm nguồn nhân lực được hiểu rất phức tạp và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
Theo cách tiếp cận của tổ chức Liên hợp quốc trong Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000) thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và tiềm năng của con người liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và của đất nước” [13; tr 3]. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra 7 của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3, tr 12] Theo GS.TS Phạm Minh Hạc thì: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [5; tr 269]. Nguyễn Bảo Thư: “Nguồn nhân lực được đo lường giá trị bằng chi phí để thay thế người lao động; là kiến thức, năng lực và kỹ năng của các thành viên trong doanh nghiệp. Những giá trị ấy được thể hiện ở năng suất, hiệu quả công việc và thái độ của người lao động với doanh nghiệp” [10; tr 60] Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Trong doanh nghiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp 8 cần phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất và lượng để đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ ở hiện tại mà trong cả tương lai.
Chất lượng nguồn nhân lực Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2005) nêu: “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” [11; tr 19]. Vũ Thị Ngọc Phùng thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”. Theo quan điểm này, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các yếu tố trí lực (trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng) và thể lực (sức khỏe) [7; tr 168].
Mai Quốc Chánh thì: “Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất [5; tr 36]. Có quan điểm cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. 9 Như vậy, có thể thấy khái niệm “chất lượng nguồn nhân lực” có nội hàm rộng. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện qua ba mặt: thể lực, trí lực và tâm lực”.
Trong đó, thể lực là nền tảng, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí lực là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí lực thành thực tiễn. Trí lực: “chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người” [8; tr 8]. Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Khai thác và phát huy tiềm năng trí lực trở thành yêu cầu quan trọng trong việc phát huy nguồn lực con người.
Trí tuệ là tổng hợp từ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hóa, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực ở xã hội công nghiệp.
Thể lực: “chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính…” [8; tr 8]. Có thể nói, thể lực là trạng thái sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song sức mạnh trí tuệ con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh.
Chăm sóc sức khỏe là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề để phát huy có hiệu quả tiềm năng con người. 10 Tâm lực: còn gọi là phẩm chất tâm lý – xã hội, chính là tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ…), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm thay đổi từng người lao động (thông qua trí lực, thể lực và tâm lực) theo chiều hướng tốt hơn đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể đáp ứng đòi hỏi và các yêu cầu, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một tổ chức. Đối với cá nhân người lao động thì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với tổ chức, doanh nghiệp thì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc thực hiện một số hoạt động nhằm thay đổi chất lượng nguồn nhân lực tăng lên so với chất lượng nguồn nhân lực hiện có.