Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần phát triển vật liệu xây dựng mới Thành Đông. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Công ty cổ phần phát triển vật liệu xây dựng mới Thành Đông. Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp NNL là nguồn lực con người, một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển tổ chức. Đây là tổng hợp sức mạnh cá thể của con người được huy động vào quá trình lao động và hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức. Thuật ngữ NNL đến nay được sử dụng rất phổ biến, tuy nhiên tùy theo khía cạnh, phạm vi nghiên cứu sẽ có định nghĩa khác nhau. Theo Liên Hợp Quốc thì: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Ở góc độ này, NNL được xem xét như tổng hợp các yếu tố cấu thành sức mạnh của con người thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân và tổ chức. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2008) “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [4; tr. Với định nghĩa này, NNL được hiểu tương tự định nghĩa lực lượng lao động xã hội.
Nó được xem như khả năng, sức mạnh tiềm tàng của dân cư được huy động vào quá trình lao động, tác động vào thế giới xung quanh để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua 3 thành tố cấu thành là: Số lượng, chất lượng và cơ cấu. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, giáo trình Quản trị nhân lực (2012) thì “Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL của nó. Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu Luan van 9 là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [10; tr.
Đồng quan điểm này, tác giả Lê Thị Mỹ Linh (2009) cũng cho rằng: “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ làm trong tổ chức đó có sức khỏe và tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp [23, tr13]. NNL trong DN hay của DN là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp [46, tr. “Đây là tất cả những người có tham gia vào quá trình giải quyết nhiệm vụ của DN, ở bất cứ vị trí nào (cả trong và ngoài doanh nghiệp) mang tính ổn định, lâu dài” [38, tr. Theo cách hiểu này thì NNL trong DN bao gồm toàn bộ những người có tên trong danh sách thuộc biên chế hay những cộng tác viên có tham gia vào giải quyết các công việc của DN có tính ổn định đều được tính là nguồn nhân lực của DN.
Nói cách khác, nó bao gồm không chỉ những người có tên trong danh sách, đang hưởng lương hay hưởng chế độ, quyền lợi lao động do DN chi trả, mà còn là những người lao động bên ngoài đang ký hợp đồng ngắn hạn, dài hạn mang tính mùa vụ hay theo tính chất công việc, các công tác viên có cam kết làm việc cho DN, có sản phẩm, hay đóng góp công sức vào giải quyết các công việc cho DN. Các loại lao động như trên hiện nay khá phổ biến. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xây dựng thông thường chỉ có một bộ khung cứng, còn lại những lao động phổ thông thì khi nhận công trình ở đâu họ sẽ thuê ở đó, không cần phải di chuyển một số lớn tất cả người lao động vừa tốn chi phí di chuyển, lo nơi ăn, ở, dăng ký tạm trú, tạm vắn rất tốn kém và phức tạp. Các nông trang, nông trại, nhà nghỉ chỉ thuê nhân công theo mùa vụ; các hãng bánh kẹo chỉ cần thê thêm nhân công vào các dịp chuẩn bị lễ, tết hay các DN chỉ tuyển nhân công ngắn hạn khi phải gia tăng sản lượng cho kịp tiến độ bàn giao và hoàn thành hợp đồng đúng kỳ hạn.
Với quan niệm này, NNL được hiểu theo hướng mở, đó là khả năng huy động sức lao động vào quá trình sản xuất của tổ chức, không phân biệt nguồn lực này xuất phát từ đâu, miễn là đóng góp khả năng, công sức vào giải quyết các công việc của DN, “tuổi nhỏ, làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”. Luan van 10 - NNL trong DN được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu, cụ thể là: Căn cứ vào chức năng công việc đảm nhiệm, NNL được phân loại như sau: + Theo chức năng sản xuất, chế biến: có nhân công trực tiếp (là những lao động tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo sản phẩm) và nhân công gián tiếp (là những nhân công phục vụ cho những nhân công trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất). + Theo chức năng lưu thông, tiếp thị: bao gồm các nhân viên bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu thị trường. + Theo chức năng quản lý hành chính: bao gồm các nhân viên tham gia vào quá trình quản lý, điều hành, hướng dẫn kỹ thuật.
+ Theo vị trí, vai trò trong quá trình tác nghiệp: gồm công nhân chính và công nhân phụ trợ” [46, tr. Phân loại theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch lao động trong từng bộ phận của doanh nghiệp như: bộ phận sản xuất, kinh doanh trực tiếp; bộ phận quản lý, hành chính, kỹ thuật viên, công nhân trực tiếp. Mặt khác tạo điều kiện trong việc xây dựng định mực, phân công nhiệm vụ, lập dự toán và thực hiện các dự toán chi phí kinh doanh, quỹ lương,. Xét ở góc độ cá nhân, NNL được xem như sức mạnh cá thể, khả năng đóng góp của từng thành viên trong DN, nó được biểu hiện qua những thành tố cấu thành NNL của mỗi con người như: tâm lực, thể lực và trí lực [38; tr.
+ Thể lực là sức khỏe, sức chịu đựng của con người, nó bao gồm sức khỏe về mặt thể chất và sức khoẻ tinh thần. Sức khỏe thể chất thể hiện qua sức mạnh cơ bắp của con người như sức co, sức kéo, sức đẩy, sức nâng, qua chiều cao, cân nặng, vóc dáng hình thể hay thể hiện qua các thao tác, hoạt động cụ thể như” nhanh, mạnh, bền, khéo”. Sức khỏe về tinh thần được thể hiện qua sức chịu đựng về thần kinh, chịu đựng áp lực, sự dẻo dai trước sức ép công việc trí óc, sự suy nghĩ, căng thẳng về thần kinh. Nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp là tất cả người lao động có trong doanh nghiệp đó, bao gồm toàn bộ những người có quan hệ lao động Luan van 11 với doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động quản lí, điều hành của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp [34, tr. Từ các định nghĩa trên, theo tác giả luận văn, NNL trong DN được hiểu là bao gồm tất cả các cá nhân đang làm việc trong DN, ở bất cứ vị trí, công việc nào, có tham gia vào giải quyết các công việc của DN. Nó bao gồm toàn bộ những người thuộc biên chế, hay người ngoài biên chế được huy động vào để giải quyết các công việc theo nhu cầu phát triển của tổ chức mang tính ổn định và lâu dài. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lượng là khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Trong Từ điển tiếng Việt phổ thông (1998): “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [28, tr. Theo tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam TCVN -ISO 8402: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn" [2]. Từ định nghĩa trên theo tác giả Luận văn: “Chất lượng được hiểu là một tập hợp các tính chất, đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu nhất định mà người sử dụng hay đối tượng liên quan”. Với cách hiểu trên, theo Bùi Văn Nhơn: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Đó là các yếu tố phản ánh trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc” [31, tr. Khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực người ta thường quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và chất lượng nguồn nhân lực tổng thể: Luan van 12 Chất lượng nguồn nhân lực tổng thể: bao gồm chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và cấu trúc (cơ cấu) của nó. Thể hiện trên 3 phương diện: qui mô, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu đặt ra. Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành lên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Trong mỗi doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về đời sống của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ lành mạnh của bầu không khí văn hoá trong mỗi doanh nghiệp nhất định. Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực cũng như các yếu tố cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực.