phần mở đầu, kết luận, đề tài đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Bệnh viện đa hoa hu vực Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Bệnh viện đa khoa khu vực Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa 4 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Theo Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu (2012) thì “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm c o con người hoạt động.
Sức lực đ ngày càng phát triển cùng với sự phát triển củ cơ t ể con người và đến một mức độ nào đ con người đủ điều kiện t m gi vào quá trìn l o động – con người có sức l o động” [9]. Theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng củ con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng l o động của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm 10 năm…) p ù ợp với kế hoạch và chất lượng phát triển”. [13] Từ các định nghĩa trên, ta c thể hiểu một cách ngắn gọn rằng nhân lực là toàn bộ năng lực mà con ngƣời sử dụng vào quá trình làm việc của mình, nó bao gồm tất cả tiềm năng của một con ngƣời sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội.2 Nguồn nhân lực Thực tế đ cho thấy rằng nếu một đất nƣớc hay một tổ chức c đầy đủ các trang thiết bị hiện đại và những phát minh tiên tiến nhất nhƣng nếu không có những con ngƣời thông minh vận hành thì n cũng hông thể nào phát huy đƣợc hết công dụng vốn có của nó. Do đ , các tổ chức luôn nỗ lực để tìm ra cách giúp con ngƣời có thể phát huy hết tiềm năng của bản thân để tạo ra một ƣớc đột phá cho tổ chức.
Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng kin ng iệm năng lực và tính sáng tạo củ con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và củ đất nước”. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm chủ iên (2010) “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đ còn n ân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [14]. Dƣới góc nhìn về mặt phát triển kinh tế: nguồn nhân lực là bộ phận ngƣời dân nằm trong độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực đƣợc chia ra trên 2 khía cạnh: Về mặt số lƣợng là những ngƣời trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc tùy thuộc vào họ; còn về chất lƣợng là sức khỏe, trình đô học vấn và kiến thức chuyên môn của họ.
Dƣới góc nhìn về kinh tế chính trị thì nguồn nhân lực đƣợc bao gồm cả thể lực và trí lực của toàn bộ ngƣời dân nằm trong độ tuổi lao động của xã hội. Trong đ , đề cao văn h a truyền thống và sức sáng tạo của ngƣời lao động để tạo ra của cải và vật chất phục vụ cho tất cả ngƣời dân của đất nƣớc trong thời điểm hiện tại và hƣớng tới tƣơng lai xa hơn. Tuy có rất nhiều cách để hiểu về nguồn nhân lực nhƣng cách chung nhất để nói về nó bao gồm: số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu nguồn nhân lực. Tóm lại, có nhiều các khái niệm và các cách hác nhau để định nghĩa về nguồn nhân lực nhƣng tất cả các cách hiểu đấy đều c đặc điểm chung và nó đƣợc hiểu nhƣ sau: Nguồn nhân lực là tổng thể tất cả lực lƣợng đƣợc xác định bởi số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu lao động c đủ để tham gia vào hoạt động của xã hội hoặc tổ chức nào đ.
Do đ , nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở mặt số lƣợng mà nó còn liên tục có sự thay đổi và cải thiện liên tục về cơ cấu và chất lƣợng. Chất lượng nguồn nhân lực Theo Nguyễn Tiệp (2005) thì: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản án trìn độ phát triển kinh tế - xã hội cũng n ư mức sống, dân trí củ dân cư” [10]. Theo Tạ Ngọc Hải (2013): “Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận n ư trí tuệ trìn độ, sự hiểu biết đạo đức, kỹ năng sức khoẻ, thẩm mỹ. củ người l o động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đán giá c ất lượng nguồn nhân lực” [16]. Theo Vũ Thị Ngọc Phùng (2006): “Chất lượng nguồn nhân lực được đán giá qu trìn độ học vấn c uyên môn và kĩ năng củ người l o động cũng n ư sức khỏe của họ”[17]. Với ý kiến nêu trên thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đánh giá thông qua các yếu tố về: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, ĩ năng (trí lực) và thể lực. Các yếu tố trên có thể định lƣợng đƣợc bằng cấp đào tạo chuyên môn và đánh giá đúng thực lực của ngƣời lao động.
Tóm lại, nguồn nhân lực có rất nhiều cách hiểu, nhƣng c cách chung nhất để nói về trạng thái của nó thông qua ba yếu tố: Thể lực, trí lực và tâm lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là phát triển tiềm năng của con ngƣời thông qua các biện pháp đào tạo nhƣ: đào tạo, bồi ƣỡng và tối đa h a các tiềm năng đ thông qua việc tuyển dụng, tạo môi trƣờng làm việc tốt nhất để họ phát huy tốt khả năng của bản thân. Theo Bùi Văn Danh và cộng sự (2011), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện củ con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người” [18]. Bất kỳ một tổ chức nào muốn duy trì và phát triển bền vững thì luôn phải nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức vì nguồn lực này đƣợc đánh giá 7 là có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động của tổ chức.
Chất lƣợng nguồn nhân lực c đƣợc nâng cao hay không lại phụ vào các giải pháp và chính sách phát triển nguồn nhân lực của tổ chức đ , ao gồm các hoạt động tuyển dụng, đào tạo, đánh giá hiệu quả sau đào tạo, phân công bố trí công việc, chế độ đ i ngộ,…. Có thể hiểu một cách đơn giản là: Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là nâng cao thể lực, trí lực và tâm lực của ngƣời lao động nhằm nâng cao khả năng làm việc hiệu quả để phù hợp với yêu cầu của công việc của ngƣời lao động nhằm hƣớng đến đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Nội dung chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức 1. Chất lượng thể lực Thể lực là sức khỏe, thể chất và tinh thần của nguồn nhân lực.
Hiệu quả công việc sẽ không cao nếu sức khoẻ con ngƣời hông đảm bảo. Ngƣời có thể lực tốt luôn nhanh nhẹn tháo vát và bền bỉ trong công việc. Thể lực là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của tổ chức. Thể lực của con ngƣời đƣợc hình thành và nâng cao qua chế độ inh ƣỡng và hoạt động chăm s c sức khỏe.
Theo tổ chức y tế thế giới WHO (2006): “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bện y t ương tật” [2]. Nếu đƣợc phát triển hài hòa về tất cả mọi mặt thì con ngƣời sẽ có một thể lực tốt. Có sức khỏe cơ thể tốt giúp ngƣời lao động làm đƣợc tất cả những công việc tay chân và có khả năng mang vác đƣợc những vật dụng cần thiết. Sức khỏe tinh thần là hoạt động dẻo dai và linh hoạt của trí tuệ con ngƣời áp dụng vào hành động của họ.
Thể lực của con ngƣời là sự kết hợp hài hoà giữa chiều cao, cân nặng, tuổi thọ và tình hình sức khoẻ. Trong đ , tình trạng sức khỏe còn có thể thông qua tiêu chí: Tuổi thọ trung ình và cơ cấu giới tính. Chất lượng trí lực Trí lực của con ngƣời thể hiện khả năng hiểu biết và vận dụng các kiến thức vào thực tế, đƣợc thể hiện thông qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, kinh nghiệm làm việc. Do vậy, nâng cao trình độ học vấn chính là phát triển những yếu tố trên lên một tầm cao hơn.
rìn độ học vấn: thể hiện sự hiểu biết của con ngƣời về các vấn đề nền tảng về tự nhiên và xã hội. Hiện nay, tình trộ học vấn đƣợc chia thành nhiều cấp độ khác nhau, từ ngƣời biết chữ và ngƣời chƣa iết chữ, ngƣời có trình độ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học và sau đại học. Đây đƣợc coi là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh về chất lƣợng ảnh hƣởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển của tổ chức hoặc doanh nghiệp. Trình độ học vấn cao thì khả năng tiếp thu đƣợc những kiến thức sâu rộng cùng với việc áp dụng vào khoa học kỹ thuật sẽ hiệu quả hơn, đồng thời xây dựng một nền văn hoá văn minh, tạo ra môi trƣờng làm việc tốt hơn cho ngƣời lao động.
rìn độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết và khả năng áp ụng hiểu biết về những lĩnh vực cụ thể trong công việc, đƣợc học ở các cấp bậc từ sơ cấp đến trên đại học nhằm phụ vụ cho việc thực hiện các công việc, chẳng hạn nhƣ iến thức về phần mềm, quy trình, máy móc và các kiến thức công việc khác áp dụng cho các nhiệm vụ cụ thể. Kỹ năng: à năng lực chuyên nghiệp của một cá nhân đƣợc áp dụng để giải quyết các tình huống thƣờng xảy ra trong công việc hoặc trong cuộc sống. Các kỹ năng đấy có thể vận dụng tri thức khoa học để giải quyết các công việc thực tiễn. Kỹ năng mang yếu tố thực hành gắn với công việc trong hoạt động của con ngƣời để phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị.
Đối với từng công việc khác nhau thì yêu cầu các loại kỹ năng hông giống nhau.