Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng lao động nông thôn 1. Một số khái niệm - Khái niệm lao động Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (theo quy định của nhà nước: nam có tuổi từ 16-60; nữ tuổi từ 16-55). Lực lượng lao động là bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm trong nền kinh tế quốc dân và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
[18] - Lao động nông thôn Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. [17] - Khái niệm chất lượng lao động “Chất lượng lao động là yếu tố tổng hợp từ nhiều yếu tố bộ phận như trí, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ,… của người lao động. Trong các yếu tố trên trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để đánh giá và xem xét chất lượng lao động”.
[6] - Khái niệm nông thôn: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". [198] - Khái niệm kinh tế nông thôn: là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Nó là tổng thể các quan hệ kinh tế diễn ra trên địa bàn nông thôn, có quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp, nông dân. [187] download by : skknchat@gmail.
Đặc trưng của lao động nông thôn - Lao động nông thôn mang tính thời vụ Đây là đặc điểm đặc thù không thể xóa bỏ được của lao động nông thôn. Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xóa bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp.
Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng. - Nguồn lao động nông thôn tăng về số lượng Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô cơ cấu của nguồn lao động. Do sự phát triển của quá trình đô thị hóa và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân số giữa nông thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như lực lượng lao động so với cả nước ngày càng giảm. Mặc dù vậy, quy mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn vẫn tiếp tục gia tăng.
- Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao Chất lượng của người lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe… Trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật: nguồn lao động của nước ta đông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế. Riêng lao động nông thôn chiếm ¾ lao động của cả nước. Tuy vậy lao động nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết download by : skknchat@gmail.com 6 tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao động thấp, kỹ thuật lạc hậu. Do đó để có một nguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nước cần phải có chính sách đào tạo bồi dưỡng để có nguồn nhân lực đủ trình độ để phát triển đất nước.
Về sức khỏe: Sức khỏe của người lao động nó liên quan đến lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trường sống, môi trường làm việc, vv… Nhìn chung lao động nước ta có tình trạng thể lực thấp. Tốc độ phát triển CNH đã tăng lên đáng kể trong hai thập kỷ gần đây làm thay đổi nền kinh tế và bộ mặt xã hội. Cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến đáng kể, cùng với quá trình đó thì cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch theo: Thứ nhất, lao động nông thôn có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng chuyển lao động nông thôn sang làm ở các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Trong khu vực nông thôn, lao động hoạt động phi nông nghiệp có xu hướng tăng, đặc biệt là đối với lao động hoạt động dịch vụ.
Đô thị hóa thúc đẩy chuyển dịch lao động nông thôn sang làm các công việc phi nông nghiệp, với các hoạt động rất đa dạng tại các vùng trung tâm, thị trấn, thị tứ, các vùng nông thôn ven các thành phố, thị xã hình thành thị trường lao động khá sôi động. Đặc biệt là phát triển lao động các ngành nghề như dịch vụ điện năng, thông tin, thương mại, chế biến nông - lâm - thủy sản, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động phi nông nghiệp khác. Xu hướng lao động phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn ngày càng tăng tuy nhiên thì tốc độ tăng còn chậm. Điều đó do một số nguyên nhân sau: Tỷ lệ lao động nông thôn hàng năm bước vào tuổi lao động cao, do trong giai đoạn trước tỷ lệ tăng dân số nông thôn cao; Các vùng nông thôn trung du, miền núi chuyển chậm sang sản xuất hàng hóa, các loại thị trường ít phát triển, tăng trưởng kinh tế thấp, ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn; Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thấp hạn chế khả năng download by : skknchat@gmail.com 7 phát triển các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn; và Thu hút được ít đầu tư của Chính phủ, tư nhân và các công ty nước ngoài cho phát triển kinh tế tại các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng có khó khăn về hạ tầng cơ sở và điều kiện tự nhiên, đầu tư ít có khả năng sinh lãi cao.
Thứ hai, quá trình Đô thị hóa và hội nhập kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ. Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi lao động nông thôn phải có sự đổi mới, nâng cao chất lượng đột biến để thích ứng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Thực tế các năm chuyển đổi nền kinh tế và đô thị hóa cho thấy, lao động nông thôn nước ta còn có nhiều bất cập để đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các loại hình đào tạo công phu như công nghệ thông tin, viễn thông, chế tạo cơ khí, điện tử, ngân hàng, tài chính… và các ngành sử dụng nhiều lao động, sản xuất hướng vào xuất khẩu như dệt may, da giày, chế biến thực phẩm…Thực tế thì lao động nông thôn ít được đào tạo nghề nghiệp. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thấp là trở ngại lớn cho thúc đẩy phát triển các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ có năng suất cao và các nghề truyền thống để tạo việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa.
Thứ ba, đô thị hóa và di chuyển lao động nông thôn ra thành thị trở thành xu thế không thể cưỡng nổi, nó có tác dụng giảm sức ép căng thẳng về việc làm tại các vùng nông thôn và cung ứng lao động cho thị trường lao động các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu du lịch. Dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị bao gồm cả lao động nhập cư vào sinh sống, làm việc tại các thành phố và lao động nông thôn đến thành phố làm viêc mang tính chất thời vụ. Di chuyển lao động nông thôn ra thành thị dẫn đến hiện tượng giảm bớt một bộ phận lao động nông thôn, đa số là lao động trẻ, lao động vừa tốt nghiệp các cấp phổ thông chưa qua đào tạo. Dòng lao động nông thôn di chuyển đến làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất,… đa số có trình độ văn hóa từ cấp II trở lên, được các download by : skknchat@gmail.com 8 doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo và sử dụng.
Các khu công nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bắc Ninh… có tỷ lệ lao động từ nông thôn chiếm trên 70%. Do đó đô thị hóa có tác dụng làm biến đổi chất lượng lao động của nông thôn, bộ phận lớn lao động nông thôn dần dần có vị trí mới trong hệ thống sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Lao động nông thôn nhập cư vào các thành phố là nguồn nhân lực quan trọng đảm bảo cho sự phát triển quy mô các ngành nghề, sự hoạt động sôi nổi của thị trường lao động. Mặt khác, với đặc điểm đô thị hóa phát triển chậm, thiếu đồng bộ ở nước ta, nên việc di chuyển ồ ạt lao động vào các thành phố lớn có mặt trái là gây nên tình trạng quá tải về lao động giản đơn tại các thành phố, quá tải về hạ tầng cơ sở và gây ảnh hưởng không tốt đến cảnh quan môi trường đô thị.
Thứ tư, quy mô lao động ngành nghề truyền thống, nghề tiểu thủ công nghiệp tăng lên và có vai trò quan trọng trong đảm bảo việc làm và thu nhập của lao động nông thôn. Các làng nghề được cơ giới hóa, điện khí hóa, sản xuất hướng vào xuất khẩu nhiều hơn có vai trò lớn trong phát triển lao động phi nông nghiệp ở nông thôn. Do đó, đặt ra vấn đề phải phát triển đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực nông thôn để đảm bảo cung ứng lao động cho các làng nghề và các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.