Chương 1: Tổng quan về hoạt động CVTD tai NHTM Chương 2: Thực trạng chất lượng CVTD tai Ngân hàng TMCP A Châu -Chi nhánh Đông Đô Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng CVTD tại Ngân hàng TMCP A Châu - Chi nhánh Đông Đô SVTH: Nguyễn Thị Tuyén 2 Lép: NH58A Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Xuân Hòa CHUONG 1: TONG QUAT VE HOAT ĐỘNG CHO VAY TIEU DUNG TAI NGAN HANG THUONG MAI 1.1 TONG QUAT VE NHTM 1.1 Dinh nghĩa vềNHTM Trong nền kinh tế thị trường hiện tại có vô số doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoạt động đa dạng ởcác lĩnh vực khác nhau. Ngoài những ngành nghề như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng.tạo ra sản pham hiện hữu cho xã hộithì cũng tồn tại ngành nghề chỉ thực hiện lưu thông hàng hóa, hoặc cung cấp dịch vụtrung gian như tài chính, viễn thông, vận chuyên. Trong đócác NHTM hoạt động ở lĩnh vực rất đặc biệt đó lakinh doanh dịch vụ tài chính và các sản phẩm liên quan đến tiền.
Xuất hiện trong tình trạng kinh tế tăng trưởngở mức nhất định, cùng vớisự tồn tại và phát triển lâu đời, hệ thống NHTM dần dần được hoàn chỉnh và trở thành tổ chứcđặc biệt, có ý nghĩaquan trọngcho nền kinh tế. Nền kinh tế hàng hóa đã hình thành nên một sản phẩm đặc biệt, một đơn vi có sức ảnh hưởng lớn, ton tại trong gần như tất cả hoạt động của mọi lĩnh vực đó chính là NHTM. Bản chất, vai trò, nhiệm vụ của NHTMco bản là như nhau, tuy nhiên quan điểmcủa nhiều nước trên thé giới về ngân hàng lại không được đồng nhất.Đề có thê nêu được khái niệm khái quát nhất về NHTM, chúng ta không những phải phụ thuộc vào mục đích, cách thức kinh doanh trên thị trường, mà còn kết hợp với đối tượngmà nó hướng đến. Tại Mỹ, NHTM được coi là đơn vikinh doanh loại hình đặc biệt liên quan đến tiền tệ và những dịch vụ ngân hàng tài chính.
Hay theo quan niệm của Pháp thì: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".Còn đối với Luật Các TCTDở nước ta định nghĩa rang: “Ngân hàng thương mại là loại hình tô chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Có thé nói, NHTM là một tô chức cung cấp danh mục các sản phẩm dịch vụ phong phú nhất, thực hiện nhiều chức năng nhất so với bất kỳ một đơn vị nào khác trong thị trường tài chính. Như vậy, tuyđịnh nghĩa về NHTM có nhiều phương thức biểu đạt khác nhau phụ thuộc tập tục của mỗinước, mỗivùng miền nhưng nếu đào sâu giải thích, xem xét nội dung của cáckhái niémay, ta có thé nhận ra rằng: Toàn bộ NHTM đều có ban chất chung chính là tập hợp các nguồn tài chính rỗi rãitrên trongxãhội tập hợp lại, cùng với SVTH: Nguyễn Thị Tuyén 3 Lép: NH58A Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Xuân Hòa việctận dụng nguồn vốn đó dé cho các cá nhân,doanh nghiệpvay vốn và trang trải chi phí cho NHTM hoạt động ở lĩnh vực kinh doanh khác.2 Nhữnghoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM 1.1Hoạt động huy động vốn Trong bat kỳ hoạt động kinh doanh nào của một doanh nghiệp cũng cần phải có vốn, nó phần lớn quyết định tới khả năng và quy mô hoạt động.
Không ngoại trừ, NHTM cũng đòi hỏi lượng vốn rất lớn bởi lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đặc biệt của mình. Hoạt động huy động vốn có ý nghiatién đề với các hoạt động khác của NHTM, nó cho phép mở rộng quy mô, đa dạng hóa hình thức kinh doanh, hạn chế rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vớihoạt động này, các ngân hàngcó quyền vận dụng cácphương tiện và chính sách thiết yéu trong sự cho phép của pháp luật dé thu hútnhững nguồn tiềnkhác nhautrénthi trường, hình thành nguồn vốn nhằmcấp tín dungchomoi cá thé trong xã hội. Đề bảo đảm hoạt động đạt hiệu quả cao, NHTM phải huy động được nguồn vốn phù hợp với chỉ phí tối thiểu, đáp ứng được nhu cầu sử dụng từ đó nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của NHTM.
Dé có nguồn vốn đáp ứng cho các hoạt động của NHTM thì có một số nguồn chính có thé huy động như sau: ** Von chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu được đóng góp bởi các thành viên góp vốn là cá nhân, tổ chức. Mỗi NHTM thường huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau nên có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu và số vốn này sẽ được sử dụng trong suốt thời gian ton tại của ngân hàng. Ngoài ra, khi ngân hàng kinh doanh hiệu quả, phần lợi nhuận giữ lại sẽ tạo ra các quỹ cho nó. Một phần vốn từ quỹ này cùng với sự đóng góp từ các chủ sở hữu đã hình thành nên số vốn riêng là vốn chủ sở hữu.
Khác với tính chất của các nguồn vốn khác, vốn chủ sở hữu có tínhít biến động, được sử dụng thoải mái mà không phải hoàn trả cho người gửi. Nó là nguồn vốn quan trọng và có vai trò chính trong việc phục vụ cho mục tiêu mở rộng kênh phân phối của NHTMnhư việc kết hợpliên doanhgiữa NHTM và những tô chức khác, tăng quy mô hoạt động. Nhằm huy động được nguồn vốn này, NHTM haythực hiện qua việc phát hành cỗ phiếu, được cấp vốn từNSNN,. Nhìn chung mô hìnhkinh doanh của NHTM sẽ tác động tới hình thức huy động vốn chủ sở.
** Huy động từ tiền gửi: Tiên gửi không kỳ han, là hình thức tiền gửi không xác định trước về thời gian tiền sẽ được rút khi gửi vào NHTM. Với loại hình tiền gửi này, NHTMchi trả lãi bằng SVTH: Nguyễn Thị Tuyén 4 Lép: NH58A Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Phạm Xuân Hòa mức lãi suất rất thấp hoặc thậm chí không trả lãi. Lý do là vì nókhông én định, khó lường trước khách hàng sẽ rút tiền ra khi nào.
Đặc điểm quan trọng của loại tiền này với người gửi là chuyển nhượng dé dàng, mục đích sử dụng chủ yếu là giao dịch. Chính vì thế ngân hàng cằngiữ một khoản tiền dé bảo đảm thanh toán mà không dùng toàn bộ vốn này vào các hình thức kinh doanh khác.Nhưng do tiền gửi không kỳ hạn có chi phí huy động thấp, néu như ngân hang vừa thu hút được nguồn vốn này với số lượng lớn, vừa đảm bảo tính thanh khoản cho mình thì sẽ làm cho hiệu quả huy động và sử dụng vốn lên rất cao. Tiên gửi có kỳ han, là hình thức tiền gửi mà ngân hàng biết trước khi nào khách hàng sẽ rút tiền nêu theo thỏa thuận. Tiền gửi có kỳ hanrat ít biến động vì giữa khách hàng và NHTM đã xác định trước hạn rút tiền nên NHTM sẽ dự trù được thời gian sử dụng lượngvốn đó với mục đích khác sao cho hiệu quả nhất mà không gặp van đề mat khả năng thanh toán.
Do vậy, với loại tiền gửi này ngân hàng dễ dàng sử dụng nhưng lãi phải trả cho nó cũng cao hơn. Các cá nhân gửi tiền có kỳ hạn tại ngân hàng vẫn có thê được rút tiền trước khi đáo hạn, tuy nhiên sẽ bị phạt mức lãi suất tính theo tiền gửi không kỳ hạn. Tién gửi tiết kiệm, là hình thức mà khách hang mong muốn được hưởng lãi khi gửi vào ngân. Thực chất tiền gửi nàyđược lấy từ phần thu nhập của người gửi, khoản tiền rảnh rỗi mà họ chưa dùng đến, nó là một dạng tích lũy tài sản đặc biệt thay thế cho phương thức tích trữ vàng hay hàng hoá quý hiếm.
Có hai hình thức tiền gửi tiết kiệm chủ yếu là tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn. Trong đó, về bản chất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng giống với đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn, đều chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định mà người gửi đã thỏa thuận với ngân hàng. Còn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì người gửi có thể rút tiền theo nhu cầu của mình mà không phải thông báo trước cho ngân hàng, tuy nhiên lãi suất của nó thường thấp hơn tiền gửi tiết kiệ có kỳ hạn. ** Phát hành GTCG: Chứng chỉ tién gửi, hiéu làloại GTCGmà NHTMxác nhận có khoản tiền gửi tại đây.
Người sở hữu chứng chỉ tiền gửi sẽ nhận tiền lãi định kỳ và được thanh toán đầy đủ vốn khi tới hạn của chứng chỉ đó. Chứng chỉ tiền gửi là hình thức gửi tiền an toàn, có lãi suất cao, dé dàng chuyên nhượng cho người khác. Tuy nhiên nó lại có kỳ hạn khá dài và không được rút tiền trước hạn linh hoạt như tiền gửi tiết kiệm. Vậy nên kênh này sẽ phù hợp với khách hàng có tài chính nhàn rỗi trong một thời gian dài và cô định Trái phiêu, là loại giây được coi như một cam két trả nợ (bao gôm tiên lãi va SVTH: Nguyễn Thị Tuyén 5 Lép: NH58A Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.
Phạm Xuân Hòa gốc) của đơn vị phát hành cho người sở hữu nó. Huy động nguồn vốn với thời gian dài là mục đích khi phát hành trái phiêu của NHTM. Người mua trái phiếu, hay gọi là trái chủ cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm gì về kết quả sử dụng vốn của người vay. Nhà phát hành phải có nghĩa vụ thanh toán theo cam kết nợ của trái phiếu cho người sở hữu nó.
Việcnó phát hành loại GTCG này sẽ được NHTW hay nhữngđơn vị có thấm quyénkiém soát trên TTCK và bị ảnh hưởng bởi độ tín nhiệm của chính NHTM đó. Kỳ phiéu,co tính chatgiéng như trái phiếu, là một tờ giấy hứa trả một số tiền nhất định một cách vô điều kiện của người lập phiếu cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người nà. Tuy nhiênnó là loại ngắn hạn nên nó được NHTMdùng huy động vốn được phép dùng trong thời gian ngắn. GTCG khác, vi dụ như hình thức giấy noduoc sử dụng dé nhan vốn nước ngoài ngắn hạn bằng ngoại tệ.
Việc phát hành taiViét Nam đối với loại giấy này bị hạn ché, chi một vàiNHTM đặc biệtmới có quyền phát hành cả ở nội dia va quốc tế, còn tổ chức khác thì không thê phát hành ở cả hai lãnh thổ. ** Vay NHNNvaTCTD khác Nguồn vốn này được huy động bởi NHTMthông qua hình thức vay vốncủaNHTW, của TCTD khác hoặc giữa những NHTM với nhau.