Chương I : Tổng quan lý thuyết về hoạt động quản trị RRTD Chương II: Thực trạng TD và quản trị RRTD tại NH TMCP Quân Đội Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả Quản trị RRTD tại NH TMCP Quân Đội. 123doc 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG – QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm Rủi ro tín dụng Theo Khoản 14 Điều 4 Luật Các TCTD 2010 “Cấp TD là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp TD khác”. Cho vay là hình thức cấp TD, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian xác định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Khoản 16 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010). Hoạt động TD là hoạt động tiêu biểu hầu hết các NH, đòi hỏi NH phải kiểm soát hay ít nhất cũng dự tính, phán đoán được khả năng hoàn trả nợ của KH.
Không phải bao giờ các dự tính cũng chính xác tuyệt đối và thời gian càng dài thì khả năng phán đoán càng trở nên khó khăn hơn. Người ta cho rằng rủi ro chính mà NH phải đối mặt là rủi ro trong hoạt động TD. Ngay từ khi ngành NH còn non trẻ, những người cho vay đã luôn đòi hỏi những bảo đảm chắc chắn cho sự hoàn trả nợ vay. Khó khăn là mặc dù họ có quyền đáng kể trong thương lượng trước khi ký hợp đồng TD, nhưng người vay ở thế có lợi hơn một khi đã được giải ngân.
Tại sao cần phải quan tâm tới RRTD? Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của NH là bảo vệ tiền gửi của KH. Bên cạnh đó, NH phải có trách nhiệm với các cổ đông cũng như bảo đảm mức lương nhất định cho các nhân viên NH. Khi có sự thất thoát trong hoạt động TD, dù chỉ một NH và ở một mức nhất định nào đó cũng sẽ đe dọa đến sự an toàn và ổn định của toàn hệ thống và nền kinh tế đặc 123doc 2 biệt ở các nước thị trường chứng khoán còn chưa thực hiện đầy đủ chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế như VN. Vậy rủi ro tín dụng là gì? Là khoản lỗ tiềm tàng của vốn được tạo ra khi NH cấp TD.
Là những thiệt hại, mất mát NH gánh chịu do người vay vốn không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng TD. Theo điều 2/khoản 1/Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN thì RRTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Phân loại Rủi ro tín dụng và ảnh hƣởng RRTD đến hoạt động NH Tại sao NH cần thu nợ nhanh chóng và kịp thời? Bởi vì thời gian chậm trả càng dài thì khả năng thu hồi vốn và tỷ lệ hoàn trả của KH càng thấp. 0 50 100 150 200 250 300 350 400 30 days 95% 60 ngày 89% 90 ngày 80% 120 ngày 70% 240 ngày 50% 365 10% ngày Ngày quá hạn Tỷ lệ hoàn trả Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa số ngày quá hạn và tỷ lệ hoàn trả Nguồn: Rủi ro trong hoạt động của NH, tháng 5/2007, Học viện NH - Khoa NH Rõ ràng RRTD luôn tiềm ẩn, khi xảy ra sẽ gây tổn thất và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động, thu nhập NH, cụ thể là NH phải thực hiện nhiều khoản cho vay mới để tạo lợi nhuận bù đắp cho vốn gốc đã mất. Có thể phân RRTD thành 2 cấp độ: Rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn.
Qua biểu đồ dưới đây, thể hiện rõ khó khăn và thiệt hại NH phải đối mặt khi RRTD xảy ra. 123doc 3 Ảnh hưởng đến KH sử dụng vốn khác Rủi ro đọng vốn Cản trở và khó khăn khi chi trả người gửi tiền Nợ quá hạn và nợ khó đòi Tăng chi phí Chi giám sát Chi phí pháp lý Rủi ro mất Tốc độ TD giảm vốn Vốn gốc giảm sút Dòng tiền chậm lại hay mất Mất gốc Khả năng sinh lợi giảm Thực hiện dự trữ Hình 1.2 Những khó khăn và thiệt hại khi xảy ra RRTD Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà phân loại RRTD theo các cách khác nhau. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD được phân thành các loại sau: Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn đảm bảo nghiệp vụ nội tại tập trung Hình 1.3 Phân loại RRTD ngân hàng Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và đánh giá KH. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích TD khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSĐB. 123doc 4 - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay.
- Rủi ro tập trung là trường hợp NH tập trung cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều KH hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định… Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro, theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay… 1.3 Dấu hiệu nhận biết RRTD và nguyên nhân dẫn đến RRTD Hầu hết RRTD xảy ra đều có dấu hiệu báo trước, song CBTD thường ít khi nhận diện được dẫn đến không phát hiện sớm rủi ro và đề ra các biện pháp xử lý kịp thời. Từ phân tích đã nêu phần trên, nhận biết dấu hiệu RRTD và nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro là yêu cầu cấp thiết, không chỉ giúp người quản lý mà ngay cả nhân viên TD cách phòng ngừa hiệu quả, giảm thiểu mức thấp nhất tổn thất NH cả về vật chất và hình ảnh, uy tín. Nhận diện rủi ro, qua đó có giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các khoản cho vay rủi ro là khâu quan trọng, quyết định đến hiệu quả kinh doanh TD của NH. Dấu hiệu nhận biết RRTD bao gồm: dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính.
Dấu hiệu tài chính: thể hiện qua các chỉ tiêu được rút ra từ số liệu BCTC KH. Tuy nhiên phần lớn BCTC các DN VN thường không được kiểm toán, do vậy để đánh giá chính xác, CBTD phải xác định được mức độ tin cậy của BCTC KH cung cấp. Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính bao gồm: các chỉ 123doc 5 số phản ánh khả năng thiếu thanh khoản của KH (bao gồm chỉ số thanh khoản nhanh, chỉ số thanh khoản hiện hành dưới 1); cơ cấu vốn thể hiện sự mất cân đối, khả năng tự chủ tài chính của KH; các vòng quay khoản phải thu, hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động chậm thể hiện sự trì trệ trong hoạt động, khả năng thu hồi vốn khó, phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán nợ kéo dài, hàng tồn kho luân chuyển chậm; các chỉ số khả năng sinh lời ROE, ROA thấp thể hiện khả năng tăng trưởng và triển vọng phát triển tương lai của DN yếu. Đối với KH cá nhân, dấu hiệu tài chính chính là nguồn trả nợ thường xuyên và hợp pháp của KH, đồng trả nợ suy giảm; tài sản tích luỹ KH thể hiện năng lực tài chính cũng như nguồn thu phụ NH có thể đàm phán với KH sử dụng trong trường hợp xuất hiện nợ quá hạn.
Dấu hiệu phi tài chính: Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía KH: KH trì hoãn cung cấp thông tin, gây trở ngại cho việc kiểm tra định kỳ, đề nghị gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ thiếu căn cứ thuyết phục, chây ỳ trong việc trả nợ. Nhóm dấu hiệu liên quan đến giao dịch NH: những thay đổi bất thường trong tài khoản tiền gửi thanh toán, có dấu hiệu tìm kiếm nguồn tài trợ bất thường1, chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho NH… Nhóm dấu hiệu liên quan đến hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính và phương pháp quản lý của KH: khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sản phẩm có tính thời vụ cao, phát sinh chi phí bất thường, thay đổi cơ cấu tổ chức, thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên, chạy theo trào lưu, vấn đề thị hiếu… Nhóm dấu hiệu phát sinh từ chính sách TD của NH: đánh giá và phân loại không chính xác và rủi ro KH, dấu hiệu che giấu nợ có vấn đề, hồ sơ TD không đầy đủ, phát triển TD quá mức… 1 Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao, dư nợ gia tăng bất thường, mức độ vay thường xuyên trong khi KD không phát triển, doanh thu giảm, yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến. 123doc 6 Khi phát hiện thấy các dấu hiệu phát sinh rủi ro, CBTD phải tiến hành ngay các bước xác định mức độ nghiêm trọng và nguyên nhân, đồng thời phải tái phân loại khoản vay.