CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Giảng viên, đội ngũ giảng viên 1.1 Giảng viên Trong hoạt động giáo dục có nhiều thủ thể tham gia hoạt động này, chủ thể trực tiếp tham gia công tác giáo dục thường được gọi là Giảng viên đối với hệ giáo dục đại học trở lên. Theo nghĩa rộng thì người giáo dục tác động có mục đích lên người học để thúc đẩy phát triển về tri thức.
Hiểu theo nghĩa ngược lại thì công tác giáo dục là căn cứ theo yêu cầu của xã hội mà giảng viên sẽ truyền đạt kiến thức cần thiết để người học đáp ứng được yêu cầu mà xã hội đặt ra. Khái niệm giảng viên có nhiều cách tiếp hiểu khác nhau: Theo Văn hóa truyền thống Việt Nam thì “Không thầy đố mày làm nên” điều này vừa khẳng định đạo lý tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn cảu truyền thống người Việt Nam và cũng khẳng định thầy giáo là người làm nghề dạy học, dạy chữ. Theo luật giáo dục 2005: Giảng viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ). Trên thế giới, nhà giáo đại học thường gắn với một chức vụ khoa bảng hoặc do các trường đại học đề bạt hoặc do Chính phủ bổ nhiệm.
Ở Việt Nam Điều 61, Luật Giáo dục (2005) có nêu: Nhà giáo là một người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: + Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. + Được đào tạo đạt trình độ chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ. + Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp + Lý lịch bản thân rõ ràng.
16 Điều 70, Luật Giáo dục (2005): Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mần non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”. Điều 71, Luật Giáo dục (2005): Giáo sư, phó giáo sư là chức danh của nhà giáo đang giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học. Định nghĩa về giảng viên theo nghĩa rộng, hẹp có nhiều cách khác nhau nhưng đều thống nhất về bản chất của người giáo viên. Đó là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở đào tạo khác nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là xây dựng và hình thành nhân cách cho người học, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội.
Theo luật giáo dục 2012: Giảng viên là ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo được xếp cho viên chức, chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, giáo sư, phó giáo sư. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Giảng viên đại học trước hết là một nhà giáo, vì thế chất lượng của đội ngũ giảng viên được đánh giá trước hết qua các tiêu chuẩn cơ bản của nhà giáo, bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực, tạo nên cấu trúc nhân cách của mỗi người thầy giáo.
Đội ngũ giảng viên Theo Virgil K.RowlandL “Đội ngũ giảng viên là những chuyên gia trong ngành giáo dục. họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục”. Ở Việt Nam một số tác giả cho rằng: Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, tập thể người đó bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ giáo dục. 17 Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên là một tập thể người có cùng chức năng, nghề nghiệp (nghề dạy học) cấu thành một tổ chức và là nguồn nhân lực của tổ chức đó; cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã đặt ra cho tổ chức; họ làm việc theo kế hoạch đồng thời chịu sự ràng buộc của những quy tắc hành chính của ngành và theo quy định của pháp luật.
Phân loại giảng viên Những yêu cầu cụ thể đối với giảng viên đại học được quy định theo tiêu chuẩn ngạch giảng viên trong tiêu chuẩn chung các ngạch giảng viên theo Thông tư số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT đặt ra ngày 06 tháng 06 năm 2011. Trong đó giảng viên được phân chia thành 3 ngạch: Giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp. Mỗi ngạch lại có những tiêu chuẩn và yêu cầu về trình độ riêng. Giảng viên Đối với giảng viên, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường Đại học hoặc Cao đẳng, yêu cầu về trình độ bao gồm: - Có bằng cử nhân trở lên - Đã quy thời gian tập sự giảng viên theo quy định hiện hành.
- Có ít nhất hai chứng chỉ bộ dưỡng sau đại học: chương trình chính trị, triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học, chứng chỉ những vấn đề cơ bản về tâm lý học và lý luận dạy học ở bậc đại học. - Sử dụng được một ngoại ngữ chuyên môn ở trình độ B. Giảng viên chính Giảng viên chính là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau đại học thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học. Tiêu chuẩn để công nhận là một giảng viên chính bao gồm: - Có bằng thạc sỹ trở lên.
18 - Có thâm niên ở ngạch giảng dạy ít nhất là 9 năm. - Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ C. - Có đề án hoặc công trình sáng tạo được cấp khoa và trường công nhận và được áp dụng có kết quả trong công việc. Giảng viên cao cấp Giảng viên cao cấp là viên chức có chuyên môn cao nhất đảm nhiệm vai trò chủ trì, tổ chức chỉ đạo, thực hiện giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau đại học, chuyên trách giảng dạy về một chuyên ngành đào tạo ở trường đại học.
Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có chuyên môn và nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học, là tiêu biểu cho phương hướng phát triển mới của bộ môn. Yêu cầu với giảng viên cao cấp bao gồm: - Có bằng tiến sỹ về chuyên ngành đào tạo. - Là giảng viên chính có thâm niên giảng dạy ở ngạch tối thiểu là 6 năm. - Có trình độ lý luận chính trị cao cấp.
- Sử dụng được hai ngoại ngữ đề phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học (NCKH) và giao tiếp quốc tế (ngoại ngữ thứ nhất tương đương với trình độ C, ngoại ngữ thứ hai tương đương với trình độ B). - Có tối thiểu 03 công trình khoa học sáng tạo được hội đồng khoa học trường đại học hoặc chuyên ngành công nhân và đưa vào áp dụng có hiệu quả.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên 1. Chất lượng Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính.
Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể 19 bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự vật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật, về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định vể số lượng của nó và không thể tồn tài ngoài tinh quy định ấy, Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng. Qua đó ta có thể hiểu rằng bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên xã hội đều có chất của nó.
Chất của sự vật là tổng hợp những thuộc tính quy định những đặc điểm cấu trúc khách quan vẫn có của sự vật, hiện tượng, chỉ rõ nó là cái gì và làm cho nó khác với cái khác. Không có sự vật, hiện tượng nào lại không có tính quy định về chất lượng, không có sự tồn tại nào thiếu tính quy định về chất lượng. Bãi cỏ, ao hồ, súc vật, con người, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội. Tất cả đều là những vật thể khác nhau vì mỗi thứ đều có tính quy định về chất lượng riêng của mình.
Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộc tính của nó. Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính. Mỗi thuộc tính tham gia vào việc quy định chất của sự vật không giống nhau, có thuộc tính bản chất, thuộc tính không bản chất. Các thuộc tính bản chất tồn tại suốt trong quá trình tồn tại của sự vật giữ vai trò quy định của sự vật làm cho nó là nó và khác với các khác.
Nếu thuộc tính cơ bản mất định thì sự vật không còn. Trái lại thuộc tính không bản chất không giữ vài trò như thế. Chất của sự vật còn được quy định bởi đặc điểm cấu trúc của sự vật, đó là các yếu tố, các bộ phận cấu thành một hệ thống của sự vật, tức cấu trúc bên trong. Cấu trúc bên trong nếu sắp xếp theo những cách thức khác nhau cũng sẽ tạo thành những thuộc tính khác nhau của sự vật.
Vì vậy khi xác định chất của sự vật cần phải tính đến đặc điểm cấu trúc của sự vật. 20 Chất lượng phản ảnh mặt vô cùng quan trọng của sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan. Heghen nói: “Chất lượng là ranh giới làm cho những vật thể này khác với những vật thể khác”. Chất lượng đội ngũ giảng viên Chất lượng đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy, uy tín của nhà trường.