phần mở đầu, kết luận, nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về công tác nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của công tác nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý trong Công ty Xây lắp điện 4. Chƣơng 3: Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý trong Công ty Xây lắp điện 4 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ 1. Chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý trong DNNN ở Việt Nam 1. Khái niệm cán bộ quản lý Khái niệm cán bộ quản lý (CBQL) xuất hiện rất nhiều trong các văn bản của Nhà nƣớc cũng nhƣ các báo và tạp chí của Việt Nam.
Tuy nhiên, đến nay chƣa có một văn bản nào chính thức định nghĩa về khái niệm này. Vì vậy, để hiểu dƣợc khái niệm CBQL, chúng ta có cách tiếp cận về ngôn từ. Trƣớc tiên, cần nắm rõ: cán bộ là gì? Văn bản chính thức nhất của Việt Nam có nêu khái niệm cán bộ là Pháp lệnh cán bộ, công chức do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa X nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 26/2/1998 và đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2003. Theo văn bản này thì cán bộ, công chức "là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, bao gồm: (1) Những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội; (2) Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (3) Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nƣớc, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; (4) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; (5) Những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm 7 việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan chuyên nghiệp" [22] Nhƣ vậy, cán bộ, công chức là những ngƣời làm trong hệ thống chính quyền hoặc doanh nghiệp nhà nƣớc, đƣợc hƣởng lƣơng ngân sách và bị quy định bởi Luật công chức hay Pháp lệnh cán bộ, công chức.
Với cách hiểu này, CBQL chính là những cán bộ, công chức làm công tác quản lý. Sở dĩ đề tài này sử dụng thuật ngữ CBQL mà không sử dụng khái niệm nhà quản trị hay nhà lãnh đạo là vì hai lý do. Thứ nhất, ý nghĩa của thuật ngữ quản lý ở đây là "tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện nhƣ đƣờng lối của chính quyền quy định" [19]. Các CBQL trong các doanh nghiệp nhà nƣớc ngoài việc quản lý tốt nhằm mang lại hiệu quả trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì còn cần thực hiện đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc - đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội.
Thứ hai, có sự khác biệt cơ bản giữa ba khái niệm quản lý, quản trị và lãnh đạo. Quản trị, tiếng Anh là management , vừa đƣợc hiểu là quản lý vừa đƣợc coi là quản trị nhƣng đƣợc dùng chủ yếu với ý nghĩa là quản trị - "việc điều khiển và ra quyết định trong một công ty hoặc một tổ chức tƣơng tự". Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là administration có nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền. Thuật ngữ lead đƣợc dùng với nghĩa là lãnh đạo.
Trong tiếng Việt "quản lý là thuật ngữ đƣợc dùng đối với các cơ quan Nhà nƣớc trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng còn quản trị là thuật ngữ đƣợc dùng đối với cấp cơ sở trong đó có các tổ chức kinh doanh - các doanh nghiệp" [10, tr. Còn lãnh đạo - "ngƣời hoặc cơ quan có quyền lực thực hiện cấp và nhiệm vụ chỉ đƣờng cho cấp dƣới hành động'" [19, tr.311] thƣờng dùng cho các cơ quan của Đảng hoặc Chính phủ. Do đó, việc sử dụng thuật ngữ CBQL sẽ phù hợp hơn với phạm vi của đề tài này. Khái niệm chất lượng cán bộ quản lý Giống nhƣ thuật ngữ CBQL, thuật ngữ chất lƣợng CBQL cũng chƣa đƣợc một văn bản nào của Nhà nƣớc chính thức đƣa ra khái niệm.
Dƣới dây là một 8 trong những cách tiếp cận ý nghĩa của cụm từ chất lƣợng CBQL. Theo Từ điển Tiếng Việt tƣờng giải và liên tƣởng chất lƣợng có nghĩa là "giá trị về mặt lợi ích" [19, tr. Còn Từ điển Oxford Advanced Learner's dictionary thì định nghĩa chất lƣợng (quality) là "mức độ tốt hoặc giá trị". Nhƣ vậy, khái niệm chất lƣợng của tiếng Việt và tiếng Anh đều đƣợc hiểu với nghĩa là giá trị mang lại lợi ích.
Theo quan niệm của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế - ISO trong tiêu chuẩn chất lƣợng ISO.8402 - 1987 thì "Chất lƣợng là tổ hợp các đặc tính của thực thể tạo cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn". Gần đây, tổ chức này đã đƣa ra định nghĩa ngắn gọn hơn trong ISO.9000 - 2000: "Chất lƣợng là mức độ của một tập hợp các đặc tính làm thỏa mãn nhu cầu" [24, tr. Quan niệm này cũng gián tiếp khẳng định chất lƣợng là giá trị mang lại lợi ích hay thỏa mãn nhu cầu. Từ định nghĩa này ta thấy chất lƣợng có bốn đặc điểm sau: (1) Chất lƣợng là tổng hợp của các đặc tính; (2) các đặc tính của chất lƣợng phải thỏa mãn một nhu cầu nào đó trong hiện tại và tƣơng lai; (3) chất lƣợng chỉ mang tính tƣơng đối về mặt không gian và thời gian; (4) chất lƣợng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tƣợng.
Hai định nghĩa chất lƣợng trên "không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày.có thể áp dụng cho một đối tƣợng bất kỳ" [23, tr. Vì vậy, dựa theo định nghĩa này, có thể coi chất lƣợng CBQL là tổ hợp các thuộc tính có giá trị mà nhờ đó ngƣời CBQL mang lại hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi ích kinh tế - xã hội. Theo đó, khi nói về chất lƣợng CBQL ta nói đến bốn đặc điểm cơ bản sau: + Chất lƣợng cán bộ quản lý là tổ hợp các thuộc tính có giá trị. Trƣớc hết, các thuộc tính có giá trị này là hàm lƣợng tri thức đƣợc trang bị trong mỗi ngƣời CBQL nhƣ: kiến thức chuyên môn, kiến thức về quản trị kinh doanh, kiến thức pháp luật; nắm vững các quy luật về kinh tế và kinh doanh, quy luật tâm lý- xã hội; hiểu biết về những phƣơng pháp đo lƣờng định lƣợng hiện đại nhƣ phƣơng pháp dự đoán, phƣơng pháp tâm lý xã hội học và các công cụ lƣu trữ, truyền 9 thông: máy vi tính, máy fax, điện thoại, mạng internet.; có khả năng sử dụng tốt những ngoại ngữ thông dụng.
Bên cạnh đó, những thuộc tính có giá trị còn bao gồm đặc điểm tâm lý cá nhân của ngƣời CBQL nhƣ : khả năng vận dụng những tri thức nêu trên vào công việc, đạo đức kinh doanh, khả năng xử lý khéo léo linh hoạt trong mối quan hệ với con ngƣời, sức khỏe, độ tuổi. + Chất lƣợng cán bộ quản lý phải thỏa mãn nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Chất lƣợng CBQL phải thỏa mãn nhu cầu hoạt dộng sản xuất kinh doanh có nghĩa là kiến thức và năng lực của ngƣời CBQL phải đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Mặt khác, chất lƣợng CBQL phải thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đƣợc hiểu là ngoài hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngƣời CBQL còn tạo ra đƣợc nhiều của cải cho xã hội và năng lực của họ phải ngang tầm với nhiệm vụ của đất nƣớc trong thời kỳ đó.
Hơn thế nữa, ngƣời CBQL còn phải có năng lực cần thiết để không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và xã hội trong hiện tại mà còn có khả năng duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội trƣớc những biến động không ngừng của môi trƣờng kinh doanh hiện đại. + Chất lƣợng cán bộ quản lý mang tính tƣơng đối về cả hai mặt thời gian và không gian. Ngày nay khoa học và kỹ thuật tiến bộ rất nhanh, hàm lƣợng trí tuệ trong mỗi đơn vị sản phẩm kể cả sản phẩm tinh thần tăng nhanh, DNNN luôn phải đối mặt với muôn vàn thách thức không lƣờng trƣớc đƣợc: cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, khủng bố, chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai. Vì vậy, CBQL dù có năng lực nổi trội cũng chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.
Ví dụ nhƣ: trong chiến tranh đất nƣớc cần những ngƣời có đức tính dũng cảm dám hy sinh nhƣng trong làm ăn kinh tế lại rất cần những ngƣời có óc quan sát, dám mạo hiểm chấp nhận rủi ro, biết lƣờng hết mọi tình huống có thể xảy ra cho doanh nghiệp. Ngoài tính tƣơng đối về thời gian, chất lƣợng CBQL còn có tính tƣơng đối về không gian nghĩa là ngƣời cán 10 bộ này có thể đảm nhiệm tốt công tác quản lý của doanh nghiệp này nhƣng không chắc đã phù hợp với việc quản lý doanh nghiệp khác. Có thể thấy một CBQL có chuyên môn về lĩnh vực nông nghiệp thì khó có thể quản lý doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Bởi lẽ, ngƣời cán bộ này chỉ có hiểu biết của lĩnh vực nông nghiệp mà không nắm đƣợc các kiến thức chuyên môn kỹ thuật và kiến thức về môi trƣờng cạnh tranh của ngành công nghệ thông tin.
+ Chất lƣợng cán bộ quản lý vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tƣợng. Chất lƣợng CBQL mang tính cụ thể vì đƣợc thể hiện trực tiếp thông qua một số chỉ tiêu lƣợng hóa đƣợc nhƣ trình độ học vấn, trình độ tin học, ngoại ngữ, độ tuổi, sức khỏe.