CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH 1.1- Công chức hành chính nhà nước và vai trò của đội ngũ công chức HCNN ở địa phương 1.1 Công chức HCNN Công chức HCNN: Cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị và văn hóa của các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào nửa cuổi thế kỷ XVIII, ở các nước phương Tây xuất hiện khái niệm công chức. Khái niệm này dùng để chỉ những người thừa hành quyền lực nhà nước để quản lý xã hội. Tuy nhiên, khái niệm công chức ở những Quốc gia khác nhau thì có những quan niệm khác nhau. Riêng đối với Việt Nam, khái niệm công chức ra đời năm 1950 và cũng được thay đổi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau: LV quản trị kinh doanh Ngày 20 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, trong đó công chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chí nh quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ định” [ Trích Điều 1, Quy chế công chức ban hành kèm theo Sắc lệnh 76/SL].
Đây là khái niệm đầu tiên về công chức của nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên do chiến tranh kéo dài nên những quy định trong Sắc lệnh này không được thực hiện một cách đầy đủ nhưng những quy định này cũng tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển côn g chức của chúng ta cho đến nay. Trước đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước, ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định đối tượng được gọi là công chức bao gồm: - Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở tỉnh, huyện và cấp tương đương. 8 - Những người làm việc trong các Đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
- Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách. - Những nhân viên dân sự làn việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng. - Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của các c ơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp. - Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ mộ công vụ thường xuyên trong bộ máy của văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.
Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng q uy định. Những người không thuộc phạm vi công chức: - Các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp LV quản trị kinh doanh - Những người giữ các chức vụ trong hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ. - Những hạ sĩ quan, sĩ quan tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội biên phòng. - Những người làm việc theo chế độ tạm tuyển, hợp đồng và những người đang thời kỳ tập sự chưa được xếp vàp ngạch.
- Những người làm việc trong các tổ chức sản xuất kinh doanh c ủa nhà nước. - Những người làm việc trong các cơ quan Đảng và Đoàn thể nhân dân (có quy chế riêng của Đảng và Đoàn thể nhân dân) (Trích Điều 2, Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991) Quy định này đã có sự phân biệt công chức nhà nước với những người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan Đảng và Đoàn thể nhân dân. Để cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị Quốc hội khóa 12 thông qua Luật Cán bộ công chức, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010. Đây là sự thể chế hóa đường lối, chính sách cán bộ của Đảng ta trong tình hình mới, là cơ sở pháp lý cho 9 việc quản lý, sử dụng và xây dựng đội ngũ công chức nhà nước ta.
Luật cán bộ, công chức đưa ra khái niệm: Cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức là Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ n gân sách nhà nước, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; - Thẩm phán Toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường LV quản trị kinh doanh xuyên làm việc trong trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; Tuy nhiên, trong cán bộ công chức có một lực lượng khá đông đảo và quan trọng mà hoạt động của nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nền công vụ và chất lượng dịch vụ công của quốc gia, đó là công chức. Vậy công chức là những người nào? Luật cán bộ, công chức quy định: Cô ng chức bao gồm những người đã được quy định tại Điều 4, Cụ thể là: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thành phố , thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 10 - Công chức là công dân Việt Nam, được tu yển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghi ệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính LV quản trị kinh doanh trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức hành chính nhà nước Công chức HCNN được hiểu là công chức (the o quy định tại Nghị định 117/2003/NĐ-CP) làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cấp huyện. Công chức hành chính nhà nước ở địa phương là công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh (thành phố) và cấp huyện thuộc tỉnh (thành phố). Riêng công chức cấp xã được gọi là công chức cơ sở và có những quy định riêng, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 117/2003/Đ-CP.
Vì sao phải đưa ra khái niệm này? Theo tác giả, đội ngũ công chức hành chính tuy có số lượng không lớn so với công chức nói chung nhưng nó có chức năng quản lý vận hành hệ thống hành chính nhà nước, xương sống của nhà nước. Nền kinh tế - xã hội của quốc gia phát triển nhanh hay chậm, phát huy được nội lực, khai thác 11 được ngoại lực của quốc gia hay không phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của đội ngũ này. Do đó, cần thiết phải đưa ra khái niệm này và có nghiên cứu, phân tích riêng đối với đối tượng này. Do đặc điểm của cơ quan hành chính có những khác biệt với những cơ quan, tổ chức khá c nên công chức hành chính cũng đòi hỏi có những phẩm chất, đặc điểm riêng có của nó.
Đội ngũ công chức HCNN Đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở địa phương là toàn bộ công chức HCNN ở địa phương được hiểu là một hệ thống thống nhất, có cơ cấu tổ chức r õ ràng, được vận hành, hoạt động theo một cơ chế ổn định, liên tục. Như vậy, đội ngũ công chức hành chính có đặc điểm sau: - Bao gồm toàn bộ công chức hành chính nhà nước ở địa phương. Mỗi công chức là thành viên của đội ngũ, do vậy, trình độ chuyên môn, k ỹ năng làm việc của mỗi công chức có ảnh hưởng tốt (hoặc xấu) đến chất lượng chung của cả đội ngũ; LV quản trị kinh doanh công chức giữ vị trí càng quan trọng thì mức độ ảnh hưởng càng nhiều. - Là một hệ thống thống nhất, cơ cấu bên trong được tổ chức rõ ràng.
Mỗi thành viên, mố i tổ chức trong đội ngũ có mối quan hệ, tác động với các thành viên và tổ chức khác trong hệ thống thông qua cơ chế hoạt động của hệ thống. - Đội ngũ công chức được vận hành, hoạt động liên tục, ổn định, được gọi là một bộ máy hành chính nhà nước; nó bao gồm rất nhiều lứa tuổi, ngành nghề, giới tính, dân tộc, …Cơ cấu về các tiêu chí trên hợp lý hay không cũng có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đội ngũ.2 Vai trò của đội ngũ công chức HCNN ở địa phương Trong số 7.