CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm và chức năng của doanh nghiệp viễn thông DNVT là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, vì vậy đây cũng được xem là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ.
Theo Luật số 41/2009/QH12 của Quốc hội về Luật viễn thông, “DNVT được hiểu là đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu thực hiện các HĐKD trong lĩnh vực viễn thông”. DNVT có những chức năng sau: - Kinh doanh các loại hình dịch vụ viễn thông trong nước và quốc tế. - Khảo sát, thiết kế, lập các dự án công trình viễn thông, tư vấn và thực hiện các dự án CNTT cho các Bộ, ngành. - Sản xuất, lắp ráp, sửa chữa, kinh doanh các thiết bị điện, điện tử, tin học, thông tin viễn thông.
- Xây lắp các công trình, thiết bị thông tin (trạm máy, tổng đài điện tử, tháp anten, hệ thống cáp thông tin), đường dây tải điện, trạm biến thế. - Xuất khẩu các thiết bị về viễn thông. - Tập trung nguồn lực phát triển nhanh dịch vụ viễn thông. Vai trò của doanh nghiệp viễn thông Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh viễn thông của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (2006), DNVT có các vai trò sau: - Tạo kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Với tư cách là cơ sở hạ tầng sản xuất, DNVT thực hiện vai trò tác động đến sản xuất kinh doanh một cách tổng hợp và đa dạng trên nhiều phương diện khác nhau: + Tạo điều kiện cung cấp mọi thông tin cơ bản cần thiết cho sản xuất và thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh, lựa chọn phương án tính toán tối ưu các yếu tố đầu vào và đầu ra.
+ Tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế xã hội, thúc đẩy phát triển sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luan van 9 + Tạo tiền đề và điều kiện mở rộng thị trường trong nước, gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, thúc đẩy quá trình đưa đất nước chuyển mạnh sang kinh tế thị trường. + Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ ché kinh tế, phương thức quản lý tổ chức sản xuất. Hệ thống thông tin di động, truyền dữ liệu, Internet phát triển sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Như vậy, có thể nói, DNVT tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự phát triển văn hóa – xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hiện nay, thiết bị viễn thông là một trong những phương tiện không thể thiếu tại các trung tâm văn hóa, khoa học, những cơ sở đầo tạo, trường học, bệnh viện, trung tâm thể thao. - Hỗ trợ công tác quản lý đất nước Thông tin là công cụ để Nhà nước quản lý, điều hành mọi hoạt động của đất nước. Bất kỳ Chính phủ nào lên cầm quyền đều sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc để quản lý và điều hành đất nước.
Nhằm đẩy mạnh sự phát triển của Việt Nam theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nắm thông tin nhanh nhạy, chính xác, kịp thời là yếu tố vô cùng quan trọng. Viễn thông cũng đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý và điều tiết nền kinh tế thị trường bằng pháp luật, kế hoạch và các công cụ khác một cách linh hoạt và phù hợp với xu thế tin học hoá nền kinh tế quốc dân. - Góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước muốn thực hiện thắng lợi cần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Phát triển viễn thông, Việt Nam sẽ có điều kiện tiếp cận với khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại: kỹ thuật mới, phương thức kinh doanh mới, kinh nghiệm quản lý và các thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại trên các mặt, tận dụng được lợi thế của nước đi sau để phát triển.
DNVT cũng sẽ tạo thêm điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam hoà nhập, tiếp cận với nền kinh tế thế giới, thu hút vốn, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh doanh để phát triển. - Góp phần phát triển văn hoá - xã hội, bảo vệ môi trường DNVT cung cấp rất nhiều dịch vụ cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhờ có viễn thông hiện đại, các lĩnh vực phục vụ xã hội như y tế, giáo dục, phòng Luan van 10 chống thiên tai, giao thông và các dịch vụ công cộng có thể được cải thiện nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Ứng dụng viễn thông sẽ góp phần vào việc sử dụng có hiệu quả hơn năng lượng và các nguồn tài nguyên quốc gia.
Đồng thời, nhờ việc trao đổi thông tin ngày càng tăng sẽ dần dần giảm bớt nhu cầu đi lại của con người và sự vận chuyển của hàng hoá, do đó sẽ giảm được lượng khí thải CO2 và các chất ô nhiễm môi trường khác. Có thể nói, DNVT là có vai trò rất to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Việc phát triển ngành viễn thông nói chung và DNVT nói riêng sẽ có ý nghĩa ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của người dân, góp phần giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và chủ quyền của quốc gia, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Dịch vụ khách hàng tại doanh nghiệp viễn thông 1.
Khái niệm dịch vụ khách hàng tại doanh nghiệp viễn thông Trước khi tìm hiểu khái niệm DVKH tại DNVT, cần làm rõ các quan niệm về dịch vụ và khách hàng của DNVT. Theo Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2014), dịch vụ có thể tiếp cận theo một số quan điểm như sau: - Dịch vụ là một ngành, một lĩnh vực kinh tế - Dịch vụ là một hoạt động - Dịch vụ là kết quả của một hoạt động – sản phẩm Ở mỗi góc độ tiếp cận, có rất nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ. Nhưng tựu chung lại, dịch vụ được xem là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của bất cứ quốc gia, địa phương nào. Dịch vụ là một hoạt động chứa đựng cả yếu tố hữu hình và vô hình, cung cấp những sản phẩm vô hình dạng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Có thể hiểu, dịch vụ bao gồm 2 nhóm: - Dịch vụ chính – những sản phẩm dịch vụ trong danh mục bán hàng của doanh nghiệp. - Dịch vụ ngoại vi – những DVKH, phụ trợ, bổ sung cho sản phẩm dịch vụ chính nhằm tăng thêm giá trị, hỗ trợ lưu thông, mua bán, góp phần làm hài lòng khách hàng. Vì vậy, có thể khái niệm chung về dịch vụ như sau: “Dịch vụ là sản phẩm của doanh nghiệp, không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển Luan van 11 quyền sở hữu nhằm thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của khách hàng một cách kịp thời, thuận lợi và có hiệu quả”. (Theo Nguyễn Thị Nguyên Hồng, 2014) Khách hàng của DNVT có thể hiểu là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp… có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ viễn thông của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó.
Ngoài ra, có thể hiểu, khách hàng của DNVT là những cá nhân hay tổ chức mà DNVT đang hướng các nỗ lực marketing vào. Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm. Khách hàng của DNVT là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ viễn thông. Xét về quy mô, khách hàng của DNVT được chia làm 2 loại: - Khách hàng cá nhân: Một hoặc một vài người mua nhỏ lẻ.
- Khách hàng doanh nghiệp: Đây là doanh nghiệp, tập thể có người lãnh đạo, hoạt động theo quy định chung. Khách hàng doanh nghiệp được chia nhỏ thành doanh nghiệp siêu nhỏ (micro) – nhỏ - vừa – lớn. Chúng được phân biệt dựa trên yếu tố quy mô, vốn hay doanh thu. Xét về kênh khai thác khách hàng, khách hàng của DNVT được chia làm 2 loại: - Khách hàng nội bộ: Là những người làm việc trong các bộ phận, các chi nhánh khác nhau của DNVT.
Nói cách khác họ là những nhân viên trong công ty, là người trực tiếp sản xuất, tiếp xúc với sản phẩm. Đây không phải là khách hàng truyền thống nhưng họ cũng cần được quan tâm chăm sóc và đối xử như những khách hàng tiềm năng khác của doanh nghiệp. - Khách hàng bên ngoài: Họ là những cá nhân, doanh nghiệp hoặc người làm kinh doanh bao gồm nhà cung cấp, ngân hàng, thậm chí là đối thủ cạnh tranh… Họ là những người mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Các DNVT cần xác định đây là những khách hàng truyền thống, là khách hàng tiềm năng, là người sẽ trực tiếp đem lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chính vì vậy, cần có những biện pháp chăm sóc khách hàng hợp lý nhằm lôi kéo, níu chân khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp. Kết quả nghiên cứu về dịch vụ khách hàng của Nguyễn Thế Thiện (2014) đưa ra các khái niệm về DVKH như sau: “DVKH là một hệ thống được tổ chức để tạo ra một mối liên kết mang tính Luan van 12 liên tục từ khi tiếp xúc với khách hàng đầu tiên cho đến khi sản phẩm được giao, nhận và sử dụng, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách liên tục. DVKH là một quá trình bao gồm các quyết định hoạt động định hướng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, luôn tạo ra dịch vụ thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu mong muốn của khách hàng nhằm định vị dịch vụ, thiết lập quan hệ lâu dài và trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp và dịch vụ của doanh nghiệp đưa ra. Tuy có nhiều quan điểm về DVKH nhưng tóm lại, có thể hiểu DVKH là quá trình sáng tạo và cung cấp những lợi ích gia tăng trong chuỗi cung ứng nhằm tối đa hóa tổng giá trị tới khách hàng, đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách hàng.