CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH DU LỊCH VIỆT NAM VÀ DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG NƠI THỰC TẬP. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH DU LỊCH VIỆT NAM 1. DU LỊCH TRONG NỀN KINH TẾ Du lịch là ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch ba- lô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á.
Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng. Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng. công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch thăm quan các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng Campuchia, Lào và Thái Lan. Ngoài ra, nhờ vào việc nới lỏng các quy định về đi lại, xuất cảnh, khách du lịch nước ngoài đã có thể đi lại tự do trong nước từ năm 1997.
Trong năm vừa qua, du lịch Việt Nam thiệt hại nặng nề hơn so với năm 2020. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong năm 2021 chỉ đạt khoảng 3. Lượng khách du lịch nội địa ước đạt 40 triệu lượt, giảm 29% so với năm 2020. Tổng thu từ khách du lịch năm 2021 ước đạt 180.000 tỷ đồng, giảm khoảng 42% so với cùng kỳ năm 2020.
Cùng với đó, lượng doanh nghiệp dừng hoạt động lên tới hơn 90%, đặc biệt là những doanh nghiệp lữ hành quốc tế, vận chuyển. Nhiều 1 doanh nghiệp đã phải phá sản, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển sang kinh doanh những lĩnh vực khác. Công suất khách sạn trung bình cả năm chỉ đạt dưới 10%, một số khách sạn dừng hoạt động, đóng cửa toàn phần. Năm 2021, 60-70% lao động trong ngành du lịch không có việc làm, chỉ còn khoảng 20-30% lao động khung thì được giữ lại.
Thiệt hại của ngành Du lịch có thể nói rằng là “chạm đáy”, không còn gì thấp hơn được nữa. TIỀM NĂNG DU LỊCH VIỆT NAM Con số của Tổng cục Thống kê cho thấy năm 2021, lượng khách quốc tế đến Việt Nam giảm hơn 99% so với năm 2019. Cụ thể, tính chung năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 157,3 nghìn lượt người, giảm 95,9% so năm trước và giảm 99,1% so năm 2019. Trong số đó, lượng khách chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam.
Song, riêng tháng 12 lại là “điểm sáng” của cả năm nhờ việc thực hiện lộ trình thí điểm đón khách du lịch quốc tế từ tháng 11/2021, các chuyến bay thương mại quốc tế bắt đầu được khôi phục, khách quốc tế đến tháng 12 ước đạt 17,2 nghìn lượt người, tăng 14,2% so tháng trước và tăng 5,4% so cùng kỳ năm trước. Nhờ đó, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong quý IV/2021 đạt 42,7 nghìn lượt người, tăng 62,7% so quý III/2021 và giảm 12,4% so cùng kỳ năm 2020. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2021 ước đạt 398 nghìn tỷ đồng, giảm 19,3% so năm 2020. Con số doanh thu này giảm mạnh ở các trung tâm du lịch lớn của cả nước như: Quảng Ninh giảm 10,3%; Hà Nội giảm 14%; Hải Phòng giảm 2 17,8%; Đà Nẵng giảm 20%; Bình Dương giảm 23,5%; Nghệ An giảm 30,7%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 46,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 52,2%.
Dịch vụ lữ hành năm 2021 ước đạt 6,5 nghìn tỷ đồng, giảm 59,9% so cùng kỳ năm ngoái. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành năm 2021 giảm mạnh so năm trước: Quảng Ninh giảm 32,9%; Đà Nẵng giảm 40,6%; Hà Nội giảm 45,6%; Quảng Bình 45,9%; Cần Thơ giảm 52,1%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 60,2%; Thanh Hóa giảm 67,8%; Hải Phòng giảm 70,3%; Thừa Thiên-Huế giảm 71,3% Song để tạo tác động mạnh mẽ, du lịch Việt cần những chính sách hỗ trợ mang tính đồng bộ, thiết thực hơn từ Chính phủ. Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Võ Thành Thống cho hay Bộ đang chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan xây dựng Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch COVID-19 nhằm tạo sức bật cho nền kinh tế, góp phần phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 5 năm 2021-2025; dự kiến có nhiều nhóm giải pháp, chính sách liên quan đến lĩnh vực du lịch. Theo đó, ngoài những hỗ trợ về thuế, phí, tín dụng… như hiện nay còn có các chính sách như: xây dựng và hỗ trợ bảo hiểm COVID-19, chi phí xét nghiệm RT- PCR cho du khách; số hóa dữ liệu hành trình, tình trạng sức khỏe, hành vi du khách và nhân viên phục vụ công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh khi mở cửa thị trường du lịch nội địa-quốc tế.
Với sự quan tâm, hỗ trợ và đồng hành của Chính phủ, ngành du lịch được quyền hy vọng vào một năm 2022 có thể “xua đi bóng đen u tối.” Dù COVID-19 3 vẫn diễn biến phức tạp, con đường phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam còn nhiều khó khăn, nhưng với những giải pháp nêu trên và sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, chúng ta tin tưởng vào hành trình bứt phá của du lịch Việt thời gian tới. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 xác định tổ chức không gian du lịch, theo đó lãnh thổ Việt Nam được chia thành ba vùng du lịch với những định hướng phát triển chủ yếu gắn với các vùng và địa bàn trọng điểm kinh tế cũng là địa bàn động lực tăng trưởng du lịch. Vùng du lịch Bắc Bộ: Bao gồm các tỉnh từ Hà Giang đến Hà Tĩnh với Thủ đô Hà Nội là trung tâm của vùng và tam giác động lực tăng trưởng du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long. Sản phẩm du lịch đặc trưởng của vùng là du lịch văn hóa, sinh thái kết hợp với du lịch tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng.
Các địa bàn hoạt động chủ yếu bao gồm: Thủ đô Hà Nội và phụ cận, Hạ Long - Bái Tử Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sa Pa, Ninh Bình, Sầm Sơn, Cửa Lò. Vùng du lịch Bắc Trung Bộ: Gồm các tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi với Huế và Đà Nẵng là trung tâm đồng vị của vùng và địa bàn động lực tăng trưởng du lịch Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Sản phẩm du lịch đặc trưởng là du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quan các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng; đặc biệt là các di sản văn hóa thế giới, du lịch hang động và du lịch quá cảnh qua hành lang Đông Tây đường 9, cảng biển và sân bay quốc tế Đà Nẵng. Địa 4 bàn hoạt động du lịch chủ yếu của vùng du lịch là: Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam.
Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ: Bao gồm các tỉnh từ Kon Tum đến Cà Mau. Trung tâm của vùng là thành phố Hồ Chí Minh và các tam giác tăng trưởng du lịch là: Thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang - Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Hà Tiên - Phú Quốc và địa bàn trọng điểm tăng trưởng kinh tế và du lịch Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Vũng Tàu. Các sản phẩm du lịch đặc trưởng của vùng du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi, du lịch sông nước, du lịch sinh thái đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. NHỮNG TỒN TẠI DU LỊCH VIỆT NAM Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi Trường tại các điểm du lịch, tình trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, trong khi đó công tác quản lý chưa đạt hiệu quả.
Lãnh đạo ngành du lịch hứa hẹn, năm 2010, ngành sẽ đột phá cải thiện nhà vệ sinh, sẽ phát động chiến dịch ở đâu có du lịch ở đó có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn 5 II. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH DU LỊCH TẠI THANH HÓA 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH DU LỊCH THANH HÓA Thanh Hóa – vùng đất giàu tiềm năng du lịch - Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 150km về phía nam, Thanh Hóa là vùng đất có tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đặc sắc. Những năm gần đây, du lịch Thanh Hóa ngày càng phát triển, trở thành điểm đến thân thiện và hấp dẫn du khách.
Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như Sầm Sơn (TX. Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa (huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách TP. Thanh Hóa 16km về phía đông nam. Đây là một trong những khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng của Việt Nam, được người Pháp khai thác từ những năm đầu thế kỷ 20.
Chạy dài gần 6km từ cửa Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ, Sầm Sơn có bãi cát thoai thoải, sóng mạnh, nước trong xanh và nồng độ muối vừa phải, rất tốt cho sức khoẻ con người. Ngoài bãi tắm đẹp, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng cho Sầm Sơn nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo như hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên. Bên cạnh tài nguyên biển, Thanh Hóa còn có tài nguyên rừng phong phú với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nơi lưu trữ và bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm. Điển hình trong số đó là vườn quốc gia Bến En thuộc huyện Như Xuân và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36km về phía tây nam.
Với tổng diện tích gần 15.000ha, Bến En không chỉ bao gồm quần thể núi, rừng, sông, hồ đa dạng, đặc biệt là hồ sông Mực rộng gần 4.000ha với hơn 20 hòn 6 đảo lớn nhỏ mà còn có nhiều hang động nhũ đá lung linh huyền ảo. Vườn quốc gia Bến En là nơi cư trú của 1.460 loài động vật và 1.417 loài thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: sói đỏ, phượng hoàng đất, gấu ngựa, báo lửa.; lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương. Đây cũng là địa điểm lý tưởng để du khách tham gia các hoạt động dã ngoại, cắm trại, câu cá, bắt cua… hay thăm các bản làng của người Mường, Thái.