Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản nền giáo dục, các trường đại học sư phạm giữ vai trò then chốt trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và năng lực sư phạm chuẩn mực. Tuy nhiên, công tác đào tạo giáo viên bộ môn Hóa học thời gian qua còn bộc lộ nhiều khoảng cách giữa lý thuyết giảng dạy tại giảng đường và yêu cầu thực tiễn tại các trường phổ thông.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng dạy và học nghề sư phạm của sinh viên khoa Hóa học, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy các bộ môn nghiệp vụ. Vấn đề nghiên cứu tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa kết quả đánh giá thực tập sư phạm bề nổi với năng lực thực chất của giáo sinh khi trực tiếp đứng lớp.

Phạm vi nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng sinh viên năm thứ tư lớp Hóa IV khóa 1996 - 1997 thuộc Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và mạng lưới 8 trường trung học phổ thông trọng điểm trên địa bàn thành phố. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc xác lập cơ sở khoa học giúp chuyển đổi mô hình đào tạo từ truyền thụ lý thuyết thụ động sang rèn luyện hệ thống kỹ năng thực hành nghề nghiệp. Đề tài hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên hứng thú học tập các môn nghiệp vụ từ mức dưới 30% lên trên 85%, đồng thời chuẩn hóa quy trình rèn luyện tay nghề sư phạm cho sinh viên trước khi tốt nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng của lý thuyết hoạt động tâm lý học sư phạm và lý luận dạy học bộ môn Hóa học hiện đại. Theo quan điểm của các nhà sư phạm kinh điển như K.D. Ushinsky và V.A. Sukhomlinsky, lao động sư phạm là dạng lao động sáng tạo đặc thù mang tính khoa học và nghệ thuật sâu sắc, trong đó nhân cách người thầy giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục và không một công cụ kỹ thuật nào có thể thay thế được.

Mô hình cấu trúc nhân cách người giáo viên trung học phổ thông được xác lập dựa trên 4 khối phẩm chất cốt lõi: phẩm chất chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp sư phạm và phẩm chất cá nhân. Song song với đó, hệ thống năng lực nghề nghiệp tối thiểu bao gồm 6 nhóm kỹ năng cơ bản: kỹ năng sử dụng và lựa chọn phương pháp dạy học, kỹ năng soạn giáo án, kỹ năng thực hiện giáo án trên lớp, kỹ năng giáo dục và chủ nhiệm, kỹ năng giao tiếp sư phạm, cùng kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục. Đối với giáo viên Hóa học, hệ thống này tích hợp thêm nhóm năng lực đặc thù bộ môn gồm kỹ năng biểu diễn thí nghiệm hóa học an toàn, kỹ năng chế tạo đồ dùng dạy học trực quan và kỹ năng vận dụng kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập thông qua 3 hệ thống phiếu điều tra chuyên biệt, bao gồm 2 loại phiếu dành cho sinh viên và 1 loại phiếu dành cho giáo viên hướng dẫn thực tập. Nghiên cứu kết hợp bảng hỏi khảo sát thái độ học tập và thang đo định lượng Likert 7 bậc từ 0 đến 6 điểm (tương ứng từ mức rất tồi đến mức rất tốt) để đo lường mức độ thành thạo các kỹ năng dạy học.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 49 sinh viên năm thứ tư lớp Hóa IV niên khóa 1996 - 1997 và 20 giáo viên trung học phổ thông trực tiếp hướng dẫn thực tập tại 8 trường phổ thông nội thành gồm: Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Khuyến, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Du, Trưng Vương, Nguyễn Công Trứ và Theleman. Phương pháp chọn mẫu chỉ định theo cụm được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu trực tiếp từ các nhóm đối tượng đang tham gia đợt thực tập tốt nghiệp.

Phương pháp phân tích số liệu sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, tính điểm trung bình cộng và phân tích tỷ lệ phần trăm so sánh tương quan giữa kết quả tự đánh giá của giáo sinh với kết quả đánh giá khách quan của giáo viên hướng dẫn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này nhằm phát hiện chính xác các độ lệch nhận thức và những điểm nghẽn kỹ năng thực tế của sinh viên trong suốt timeline nghiên cứu kéo dài trong năm học 1996 - 1997.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy sự bất cập rõ nét trong phân bổ chương trình các môn nghiệp vụ sư phạm. Có 71,15% sinh viên đánh giá số tiết môn Giáo học pháp chưa được phân bổ hợp lý và 80,00% sinh viên yêu cầu nội dung các chương cần được giảng dạy sâu hơn. Tương tự, tại môn Tâm lý giáo dục, 72,00% sinh viên phản ánh số tiết chưa phù hợp và 78,50% mong muốn tăng cường tính thực tiễn. Tỷ lệ sinh viên cảm thấy thực sự hứng thú khi học lý thuyết nghiệp vụ chỉ đạt mức khiêm tốn với 26,02% ở môn Giáo học pháp và 27,48% ở môn Tâm lý giáo dục.

Về kết quả thực tập sư phạm, có sự chênh lệch lớn giữa điểm số hình thức và năng lực thực tế. Toàn bộ sinh viên được đánh giá đạt loại Khá và Giỏi, trong đó loại Giỏi chiếm 57,14% và loại Khá chiếm 42,86%, không có trường hợp đạt điểm trung bình hoặc yếu. Tuy nhiên, khi khảo sát chuyên sâu về nhu cầu rèn luyện kỹ năng, có tới 53,33% giáo sinh và giáo viên cho rằng cần phải bồi dưỡng khẩn cấp kỹ năng xử lý tình huống sư phạm và 53,33% yêu cầu rèn luyện kỹ năng liên hệ bài giảng với thực tế sản xuất đời sống.

Ngoài ra, các kỹ năng đặc thù bộ môn Hóa học cũng ghi nhận nhiều khoảng trống. Có 51,11% ý kiến khẳng định cần bồi dưỡng thêm kỹ năng biểu diễn thuần thục thí nghiệm hóa học trên lớp và 51,11% yêu cầu nâng cao kỹ năng phát huy tính độc lập sáng tạo của học sinh. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ diễn đạt bài giảng khoa học, chuẩn xác cũng ghi nhận 48,89% yêu cầu cần rèn luyện bổ sung do nhiều giáo sinh vẫn mắc lỗi phát âm, dùng từ sai thuật ngữ chuyên môn hoặc nói giọng đều đều thiếu truyền cảm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến thực trạng trên là do quy trình đào tạo tại trường đại học sư phạm còn nặng về thuyết giảng lý thuyết một chiều, thiếu sự kết hợp giữa lý luận dạy học với kiến thức thực tế phổ thông. Cả hai bộ môn Giáo học pháp và Tâm lý giáo dục đều tồn tại sự trùng lặp nội dung về lý luận dạy học nhưng lại thiếu vắng hệ thống bài tập thực hành thao tác kỹ năng sư phạm. Sinh viên hầu như không có cơ hội kiến tập thực tế tại các trường phổ thông trước khi bước vào đợt thực tập chính thức năm thứ tư.

Khi trực quan hóa dữ liệu qua hệ thống biểu đồ so sánh thang điểm đánh giá từ 0 đến 6, dữ liệu minh chứng sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm kỹ năng. Giáo viên hướng dẫn đánh giá sinh viên đạt mức khá tốt ở các khâu chuẩn bị tĩnh như xác định mục đích bài học và tìm kiếm trọng tâm kiến thức trong sách giáo khoa. Ngược lại, ở các kỹ năng tương tác động như bao quát lớp học, điều khiển hoạt động nhận thức và sử dụng cử chỉ phi ngôn ngữ, điểm số trung bình của sinh viên chỉ dao động ở mức trung bình khá khoảng 3,80 đến 4,25 điểm. Biểu đồ tổng hợp các kỹ năng cần bồi dưỡng đã phản ánh tập trung hai điểm nghẽn lớn nhất: năng lực ứng dụng kiến thức vào thực tiễn (53,33%) và phương pháp dạy học phân hóa đối tượng (53,33%).

Sự chênh lệch giữa tỷ lệ 100% sinh viên đạt điểm thực tập Khá - Giỏi với mức độ thuần thục kỹ năng thực tế phản ánh tình trạng đánh giá cảm tính của giáo viên phổ thông và tâm lý nể nang của các đoàn thực tập. Điều này vô hình trung che lấp những thiếu hụt nghiêm trọng về bản lĩnh đứng lớp, kỹ năng quản lý học sinh cá biệt và năng lực xử lý sự cố thí nghiệm hóa học của sinh viên sư phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Hóa học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, tái cấu trúc nội dung chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Ban Chủ nhiệm Khoa Hóa học cùng các bộ môn chuyên môn cần rà soát, loại bỏ các phần trùng lặp giữa môn Giáo học pháp và Tâm lý giáo dục; đưa học phần Phương pháp giải bài toán hóa học vào chương trình chính khóa; bổ sung tài liệu thực tế về ứng dụng các hợp chất vô cơ, hữu cơ trong các ngành công nghiệp hiện đại. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm 30% thời lượng lý thuyết hàn lâm để chuyển sang thực hành phân tích tình huống trong vòng 12 tháng tới.

Thứ hai, thiết lập chế độ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên. Khoa Hóa học cần tổ chức cho sinh viên năm thứ tư tập giảng định kỳ với thời lượng từ 1 đến 2 buổi mỗi tuần dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên đại học. Áp dụng phương pháp ghi hình tiết dạy mẫu, tổ chức phân tích vi mô từng thao tác đứng lớp, tư thế bảng biểu và ngữ điệu truyền cảm, bảo đảm 100% sinh viên làm chủ kỹ năng biểu diễn thí nghiệm an toàn trước khi đi thực tập.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới liên kết đại học và trường trung học phổ thông. Trường Đại học Sư phạm cần ký kết hợp tác chiến lược với 8 trường phổ thông vệ tinh để đưa sinh viên đi kiến tập thực tế định kỳ từ năm thứ ba. Tổ chức tối thiểu 4 buổi báo cáo chuyên đề mỗi học kỳ về công tác chủ nhiệm lớp và phương pháp giáo dục học sinh cá biệt do các giáo viên dạy giỏi tại trường phổ thông trực tiếp đảm nhiệm, phấn đấu nâng tỷ lệ giáo sinh tự tin làm công tác chủ nhiệm lên trên 85% trong 2 năm học.

Thứ tư, chuẩn hóa cơ sở vật chất phục vụ rèn nghề. Nhà trường cần đầu tư nâng cấp phòng thí nghiệm phương pháp giảng dạy Hóa học với đầy đủ dụng cụ đo lường tiêu chuẩn, mô hình phân tử trực quan và hệ thống thiết bị nghe nhìn hiện đại. Xây dựng ngân hàng tư liệu bài giảng mẫu và sổ tay hướng dẫn xử lý các tai nạn phòng thí nghiệm, bảo đảm 100% giáo sinh được thực hành thuần thục các thao tác kỹ thuật trước khi tiếp xúc với học sinh phổ thông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Ban Chủ nhiệm Khoa Sư phạm tại các trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và khung lý luận vững chắc để tiến hành thẩm định, tái cấu trúc chương trình đào tạo nghề, đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá và phân bổ thời lượng thực hành nghiệp vụ hợp lý.

Nhóm thứ hai là Giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Phương pháp dạy học Hóa học và bộ môn Tâm lý - Giáo dục học. Kết quả khảo sát giúp giảng viên nắm bắt chính xác các lỗ hổng kỹ năng của sinh viên, từ đó thiết kế các bài tập tình huống sư phạm thực tế, lồng ghép phương pháp giải toán hóa học và cập nhật kiến thức sản xuất đời sống vào bài giảng.

Nhóm thứ ba là Sinh viên, giáo sinh ngành Sư phạm Hóa học và các chuyên ngành sư phạm tự nhiên. Luận văn đóng vai trò như một cẩm nang tự rèn luyện, giúp người học nhận diện rõ danh mục 6 nhóm kỹ năng đứng lớp cần tích lũy, quy trình chuẩn bị giáo án giảng dạy, phương pháp thiết kế kế hoạch chủ nhiệm và kỹ thuật làm thí nghiệm an toàn.

Nhóm thứ tư là Cán bộ quản lý giáo dục và Giáo viên hướng dẫn thực tập tại các trường trung học phổ thông. Nghiên cứu cung cấp khung tiêu chí đánh giá năng lực giáo sinh một cách khách quan, khoa học, loại bỏ tình trạng chấm điểm hình thức và tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường phổ thông với cơ sở đào tạo đại học.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân nào dẫn đến sự chênh lệch giữa tỷ lệ 100% sinh viên đạt điểm thực tập Khá - Giỏi và năng lực thực tế còn nhiều hạn chế? Tình trạng này xuất phát từ việc giáo viên hướng dẫn tại trường phổ thông thường có tâm lý ưu ái, cho điểm rộng rãi nhằm động viên tinh thần sinh viên. Đồng thời, thang điểm đánh giá đợt thực tập còn thiếu các tiêu chí định lượng chuẩn hóa về năng lực xử lý tình huống và kỹ năng thực hành thí nghiệm.

Tại sao giáo sinh khoa Hóa học lại gặp nhiều khó khăn trong khâu liên hệ bài giảng với thực tiễn đời sống? Khảo sát chỉ ra rằng chương trình đào tạo đại học tập trung chủ yếu vào lý thuyết hóa học cơ bản và hóa học chuyên ngành hàn lâm. Sinh viên thiếu tài liệu và ít được cập nhật kiến thức về công nghệ sản xuất hiện đại, ứng dụng hóa học trong nông nghiệp và đời sống, dẫn đến bài giảng thường bám sát từng câu chữ trong sách giáo khoa.

Những điểm bất cập lớn nhất trong chương trình giảng dạy môn Giáo học pháp thời điểm khảo sát là gì? Có tới 71,15% sinh viên phản ánh sự phân bố số tiết chưa hợp lý và 80,00% yêu cầu nội dung môn học cần có chiều sâu hơn. Môn học còn nặng về lý luận chung, thiếu vắng các học phần mang tính ứng dụng cao như phương pháp giải bài toán hóa học và kỹ năng kết hợp lời nói với biểu diễn trực quan.

Luận văn đề xuất biện pháp gì để tháo gỡ sự lúng túng của giáo sinh khi làm công tác giáo viên chủ nhiệm? Đề tài khuyến nghị trường đại học cần phối hợp với trường phổ thông tổ chức các buổi báo cáo kinh nghiệm thực tế về công tác chủ nhiệm, hướng dẫn chi tiết cách xây dựng kế hoạch tuần và mô phỏng các tình huống giáo dục học sinh cá biệt trước khi sinh viên bước vào đợt thực tập chính thức.

Việc bổ sung học phần Phương pháp giải bài toán hóa học có ý nghĩa như thế nào đối với giáo sinh? Học phần này giúp sinh viên nắm vững hệ thống phương pháp giải và phân loại bài tập theo từng cấp độ nhận thức. Giáo sinh sẽ không còn lúng túng khi xây dựng đề kiểm tra, khắc phục lỗi giải tắt hoặc thiếu định hướng sư phạm khi hướng dẫn học sinh phổ thông giải bài tập hóa học.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo nghề sư phạm cho sinh viên khoa Hóa học, khảo sát trên mẫu 49 sinh viên và 20 giáo viên tại 8 trường trung học phổ thông.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự bất cập sâu sắc giữa kết quả thực tập đạt 100% loại Khá - Giỏi với thực tế hơn 50% giáo sinh thiếu hụt kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng thí nghiệm và liên hệ thực tế.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm phẩm chất nhân cách và 6 nhóm kỹ năng nghề nghiệp cốt lõi, đặc biệt nhấn mạnh kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm và phương pháp dạy học tích cực.
  • Đề xuất mô hình rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên với tần suất 1 đến 2 buổi mỗi tuần ngay từ năm thứ tư, gắn kết chặt chẽ đào tạo đại học với thực tiễn trường phổ thông.
  • Đưa ra lộ trình hành động trong vòng 12 đến 24 tháng tới nhằm hoàn thiện cấu trúc chương trình, bổ sung giáo trình phương pháp giải toán hóa học và hiện đại hóa phòng thực hành sư phạm.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu giáo dục và các cơ sở đào tạo sư phạm có thể khai thác các luận điểm cùng hệ thống dữ liệu của công trình này để tiếp tục phát triển các đề tài đổi mới phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên trong kỷ nguyên mới.