Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Hòa âm (Hòa thanh) Theo GS.TS Phạm Minh Khang: Trong hệ thống lý luận âm nhạc thời Hy Lạp cổ đại, danh từ “Hòa âm” được đánh dấu bởi sự liên hợp các âm thanh trong điệu thức, xác định những cấu trúc của các chuỗi bốn âm “Tetracorde” và sự kết hợp giữa chúng với nhau. Bởi vậy, danh từ đó chỉ đáp ứng được những điều kiện về mối quan hệ theo chiều ngang trong sự tiếp diễn các nốt của thang âm hay cùng với sự phát triển của thể loại âm nhạc nhiều giọng thời Trung Cổ [19, tr.
Ông còn nói thêm về Hòa âm như sau: Hòa âm đã có sự thay đổi về căn bản, nó đã trở thành lối tư duy theo chiều dọc của các âm thanh ở các giọng khác nhau được vang lên cùng một lúc. Tuy nhiên, với dòng đi của thời đại, với sự phát triển lâu dài của nghệ thuật âm nhạc, người ta đã hiểu “Hòa âm” như một sự kết hợp các âm thanh cùng vang lên một lúc và sự tiếp diễn của lối kết hợp đó [19, tr. Theo giáo trình Hòa âm ứng dụng của tác giả Hoàng Hoa có viết: Hòa âm là sự kết hợp của các âm thành chồng âm và sự liên hệ nối tiếp nhau có quy luật của các chồng âm đó. Nói tóm lại Hòa âm là môn học nghiên cứu về sự cấu tạo và nối tiếp của các hợp âm theo một quy luật nhất định” [8, tr.
Trong Sách Giáo khoa hòa thanh của hai tác giả Phạm Tú Hương - Vũ Nhật Thăng do Nhạc viện Hà Nội và Nxb Âm nhạc ấn hành năm (1993) có viết: 8 Hòa thanh là sự kết hợp các âm thanh với nhau theo những quy luật nhất định. Mỗi chuỗi các âm thanh đó được sắp xếp lại với nhau một cách có nghệ thuật, tinh tế, nhằm tạo nên cơ sở của giai điệu. Sự hòa hợp cùng một lúc các âm thanh đó là cơ sở của hòa thanh [17, tr. Tóm lại, Hòa thanh là khoa học về sự hòa hợp/nối tiếp giữa các âm/chồng âm (về phương diện chiều dọc) trong một tác phẩm âm nhạc.
Chồng âm - Hợp âm 1. Chồng âm Trong giáo trình Hòa âm ứng dụng của tác giả Hoàng Hoa có viết: “Chồng âm là sự kết hợp của những âm bất kì nào đó vang lên cùng một lúc” [8, tr. Tiếp đó là tài liệu Lí thuyết âm nhạc cơ bản của Phạm Tú Hương thì nêu rằng: “Chồng âm là sự kết hợp cùng một lúc từ ba âm thanh trở lên gọi là chồng âm” [16, tr. Tóm lại chồng âm là sự kết hợp của những âm bất kì nào đó vang lên cùng một lúc.
Hợp âm Tác giả Ca Lê Thuần dịch Sách giáo khoa Hòa âm (1997) có viết về hợp âm như sau: Hợp âm là chồng âm mà nó có sự kết cấu nhất định. Kết cấu này phụ thuộc vào các quy luật của điệu thức. Do các quy luật này, mà hợp âm phải có không dưới ba âm khác nhau và nó có thể sắp xếp theo quãng ba. Trong các hợp âm không đầy đủ, âm thiếu đi tuy không vang lên, nhưng vẫn có ý nghĩa rõ ràng [37, tr.
Theo tác giả Hoàng Hoa - Trương Ngọc Bích, Tuyển chọn bài tập phân tích hòa thanh (2012), Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Hà Nội thì viết: “Hợp âm là chồng âm không dưới ba âm, khác nhau về cao độ, được sắp xếp theo 9 trật tự quãng ba. Trật tự quãng ba cũng có thể thay đổi, khi đảo vị trí của các âm trong đó và các chồng âm này vẫn được xem là những hợp âm” [9, tr. Bên cạnh đó Phạm Tú Hương - Vũ Nhật Thăng trong Sách Giáo khoa Hòa thanh (1993) viết: Hợp âm và mối liên kết giữa chúng với nhau đóng một vai trò rất quan trọng trong âm nhạc. Nó không những được dùng làm phần đệm cho giai điệu mà nó còn tạo nên giai điệu bằng các dạng âm hình hóa…[17, tr.
Các âm thanh trong một chồng âm được sắp xếp theo một quy luật nhất định gọi là hợp âm [17, tr.97] hay hợp âm là sự kết hợp cùng một lúc một vài âm thanh có cao độ khác nhau được sắp xếp theo quãng ba. Lối cấu trúc theo kiểu quãng ba là đặc điểm của hợp âm trong hòa thanh cổ điển [17, tr. Về khái niệm hợp âm trong Giáo trình Hòa thanh của Phạm Minh Khang có rất nhiều tác giả nước ngoài đã đưa ra những khái niệm của mình: Theo Varkheremeev thì: “Hợp âm là sự kết hợp cùng một thời gian ba hay nhiều âm thanh được sắp xếp theo quãng ba hoặc có thể xếp theo quãng ba”. Còn ở Chulin thì khái niệm về hợp âm được mở rộng hơn với khái niệm trên: Hợp âm là chồng âm mà nó có sự kết cấu nhất định.
Kết cấu này phụ thuộc vào quy luật của điệu thức và âm học. Do các quy luật này mà hợp âm phải có không dưới ba âm khác nhau và nó có thể sắp xếp theo quãng ba. Còn về quan niệm của Spaxobin thì: “Hợp âm là chồng âm bao gồm không dưới ba âm sắp xếp theo quãng ba”. Ngược lại quan điểm về hợp âm của Hindemith lại có cách nhìn khác với ba tác giả trên.
Theo định nghĩa của ông thì: “Hợp âm là bất kì một chồng âm nào từ ba âm trở lên, có thể được sắp xếp theo quãng ba (đô-mi-sol) cũng như không theo quãng ba” (đô-fa-sib hay đô-đô#-si) [19, tr. 10 Tóm lại, hợp âm là sự phát triển cao nhất, hoàn thiện nhất trong lối kết hợp các âm thanh theo chiều dọc của âm nhạc nhiều bè. Công năng Khái niệm công năng được sử dụng trong âm nhạc có khá nhiều. Trong Giáo trình Hòa thanh (Nhạc viện Hà Nội, năm 2005) tác giả Phạm Minh Khang viết: “Công năng là vị trí và vai trò của các bậc đảm nhận một chức năng nào đó trong hệ thống điệu thức….
ba bậc cơ bản (I, IV, và V) được coi là những công năng chính trong hệ thống điệu thức” [19, tr. Những nguyên tắc tiến hành bè và những bước phát triển của giai điệu là nhân tố vô cùng quan trọng cho việc hình thành và nối tiếp công năng Hòa thanh. Lối tiến hành theo kiểu bậc II và bậc VII giải quyết về bậc I là hiện tượng rất phổ biến [19, tr. Ví dụ 1: C-dur II (SII) VII (DVII) Ví dụ 2: C-dur II I6 VII I Phạm Tú Hương Lý thuyết âm nhạc cơ bản có viết: Từ một giọng trưởng hay giọng thứ đều có thể thành lập hợp âm ba bằng cách chồng thêm hai âm theo quãng ba lên mỗi bậc.
Mỗi hợp âm đều có tên gọi riêng lấy từ tên bậc của âm gốc các hợp âm trong điệu thức. Hợp âm ba xây dựng trên bậc I là hợp âm chủ (T,t). Hợp âm ba xây dựng trên bậc IV là hợp âm hạ át (S,s). 11 Hợp âm ba xây dựng trên bậc V là hợp âm át (D,d).
Ví dụ 3: C-dur I (âm chủ) IV (âm hạ át) V (âm át) Cũng theo Phạm Tú Hương Lý thuyết âm nhạc cơ bản phân nhóm công năng như sau: Ví dụ 4: C-dur (S,T,D); a-moll (s,t,d) Nhóm S (hạ át) Nhóm T (Chủ) Nhóm D (át) II S,s(IV) VI VI T,t(I) III III D,d(V) VII Cũng theo Phạm Tú Hương Lý thuyết âm nhạc cơ bản thì: Mỗi nhóm đều có một bậc chính và hai bậc phụ, nhóm 1 hợp âm bậc I (T) có chức năng là hợp âm chủ, mang tính chất là ổn định nhất, những âm không ổn định sẽ phải hút về âm ổn định (nếu là bậc II sẽ hút dẫn về bậc I, theo quy luật cung và nửa cung) [16, tr. Bậc IV là hợp âm chính trong nhóm hạ át và theo quy luật Hòa âm cổ điển thì bậc IV (hạ át) có thể về nhóm D (âm át) hoặc T (âm chủ), còn bậc V (âm át) hoặc V7 có thể giải quyết về bậc I (âm chủ) nhưng cấm về bậc IV (hạ át) vì như thế là ngược công năng (trong hòa âm cổ điển tránh “V-IV” cấm). Còn trong nhóm D, bậc V là hợp âm chính, lúc cao trào mang tính gay gắt sẽ được giải quyết về hợp âm chủ (I). Ví dụ 5: C-dur Bậc I Bậc IV Bậc V 12 Như vậy công năng là chức năng của điệu thức nó phân nhóm các bậc trong điệu thức, có thể thay thế cho nhau trong cùng một nhóm.
Dạy học Về khái niệm dạy học, theo PGS.TS Nguyễn Thu Tuấn: “Dạy học là quá trình dạy học tương tác của hai chủ thể giáo viên và học sinh”[41, tr. Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2002) Dạy học hiện đại - lý luận - biện pháp - kỹ thuật thì: Bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình học tập của mình [15, tr.TS Phạm Viết Vượng viết: “Dạy học là hoạt động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường với mục tiêu giúp học sinh nắm vững kiến thức khoa học hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tích cực với học tập”[47, tr. Chúng tôi sử dụng khái niệm: Dạy học là quá trình truyền đạt kiến thức khoa học đến người học, từ đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo. Phương pháp dạy học Theo Đặng Vũ Hoạt trong sách Lý luận dạy học đại học (2008), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội viết: Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “Metodos” có nghĩa là con đường là cách thức để đạt tới mục đích nhất định.
Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung, nó gắn liền với hoạt động của con người, giúp cho con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục đích đã đề ra [13, tr. 13 Trong lí luận dạy học, theo cuốn Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới của Thái Duy Tuyên, Nxb giáo dục (2008) có viết về PPDH như: PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn… là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học [43, tr. Nguyễn Văn Cường “Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học nhằm đạt mục đích dạy học”[4, tr.