phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng đƣợc sắp xếp có quan hệ mật thiết với nhau đi từ cơ sở lý thuyết đến cơ sở thực tiễn và giải pháp: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Hƣng Yên và doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX. Chƣơng 3: Các giải pháp quản lý cụ thể thực hiện phƣơng thức kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX. - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 13 Ch-¬ng 1 C¥ Së Lý LUËN CñA VÊN §Ò NGHI£N CøU 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, là triết lý giáo dục, là những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Ở nƣớc ta, nguyên lý này đƣợc khẳng định trong các Nghị quyết Trung ƣơng Đảng, đƣợc Bác Hồ và các nhà giáo dục quán triệt trong suốt chặng đƣờng lịch sử giáo dục. Lênin cho rằng: “Ngƣời ta không thể hình dung lý tƣởng của xã hội tƣơng lai nếu không có sự kết hợp giáo dục với lao động sản xuất của thế hệ trẻ: Giáo dục không có lao động sản xuất hay lao động sản xuất mà không có giáo dục đi đôi thì không thể đạt tới trình độ cao mà trình độ kỹ thuật hiện đại và tình hình tri thức đòi hỏi”. [12,tr25] Trên thế giới, ở nhiều nƣớc đã nghiên cứu, áp dụng việc kết hợp đào tạo nghÒ tại trƣờng và DNSX.
Điển hình là: Ở CHLB Đức, kết hợp đào tạo tại trƣờng và doanh nghiệp sản xuất đƣợc coi là loại hình đào tạo cơ bản và đƣợc áp dụng rộng rãi toàn quốc. Điển hình là mô hình “Dual System”. Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam gọi là “Đào tạo kép” hoặc “Đào tạo song hành”, “Đào tạo song tuyến” (Khái niệm Dual system đƣợc nhà giáo dục ngƣời Đức Heinrich Abel sử dụng năm 1946). [29] Đây là loại hình đào tạo cơ bản, có nhiều ƣu điểm nổi trội trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả đào tạo nghề và đƣợc nghiên cứu áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Ở Cộng hòa Pháp, việc đào tạo kết hợp đào tạo tại trƣờng và doanh nghiệp sản xuất đã và đang đƣợc nghiên cứu, áp dụng. Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation ) của Viện IFABTP (Viện đào tạo luân phiên về Xây dựng và Công trình công cộng). [10] 14 Việc kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và doanh nghiệp sản xuất đã từng bƣớc đƣợc nghiên cứu ở châu Á, đáng chú ý là ở nƣớc có điều kiện kinh tế - xã hội không khác xa so với Việt Nam. Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (Đào tạo, sản xuất và dịch vụ), có tác giả giới thiệu là “Ba trong một” (Three in one) trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay.
Các trƣờng dạy nghề gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Sự kết hợp đào tạo phong phú và đa dạng này góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Ở In-đô-nê -xia, để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho thị trƣờng thƣơng mại tự do ASEAN năm 2003 và APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề đƣợc nghiên cứu phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX đƣợc quan tâm đặc biệt.
Mô hình kết hợp đào tạo nghề đƣợc B é Văn hóa và Giáo dục bắt đầu đề xuất từ năm 1993 có tên gọi là Pendidican Sistem Ganda (PSG)- Hệ thống đào tạo kép đƣợc thực hiện bởi trƣờng dạy nghề và các bên đại diện cho giới việc làm tham gia đào tạo. Hệ thống PSG có những nét khác biệt với hệ thống đào tạo c ủa Đức và phù hợp hơn với điều kiện châu Á. Đến cuối những năm 90, nhà giáo dục Simurat Saruli phát triển phƣơng thức kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là “Hệ thống kết hợp đào tạo” cho giáo dục kỹ thuật ở In-đô-nê -xia. Ở Hàn Quốc, trong vài thập kỷ qua, khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, Chính phủ, các nhà giáo dục và quản lý nhân sự của ngành công nghiệp sản xuất nhận ra vai trò quan trọng của việc kết hợp đào tạo nghề tại trƣờng và DNSX.
Chính phủ Hàn Quốc đã đƣa ra mô hình kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là “hệ thống 2+ 1”. Hệ thống này có những nét giống với mô hình đào tạo kép của Đức. Đặc điểm riêng biệt của hệ thống này là 2 năm đào tạo tại trƣờng và 1 năm đào tạo tại doanh nghiệp. Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lƣợc của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997 - 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động.
Thực tế đào tạo nghề chƣa đáp ứng 15 đƣợc yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật. Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xƣởng sản xuất của mình. Ở Nhật Bản, đƣợc Chính phủ hỗ trợ, các DNSX vừa và nhỏ cùng hợp tác thành lập trung tâm đào tạo nghề. Dạy lý thuyết ở trung tâm và thực tập sản xuất tại DNSX.
Ở nƣớc ta, nguyên lý này đƣợc khẳng định, Bác Hồ đã dạy: “Thực tiễn không có lý luận hƣớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Tƣ tƣởng này của Bác đã đƣợc thể hiện trong các giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Sau đây là một số nét tiêu biểu: Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc năm 1948, đồng chí Trƣờng Chinh đã khẳng định: “Biết và làm đi đôi, lý luận và hành động kết hợp”. (Trƣờng Chinh, Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam, 1949, tr.
Cuộc Cải cách Giáo dục năm 1950 đã quán triệt nguyên lý kết hợp giáo dục với lao động sản xuất nguyên lý ấy đƣợc thể hiện trong nội dung và phƣơng pháp giảng dạy. Đặc biệt là các môn khoa học có liên hệ với sản xuất. Nguyên lý này đƣợc tiếp tục phát triển sau cuộc Cải cách Giáo dục lần II (năm 1956). Hội nghị Khoa học Giáo dục khẳng định: “Việc giảng dạy phải kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, lý luận phải kết hợp chặt chẽ với thực tiễn”.
Ngày 27 tháng 6 năm 1959, Bộ Giáo dục ra chỉ thị: “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là một nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa”. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), vấn đề “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” đã hiển nhiên trở thành nguyên lý cơ bản của giáo dục và đƣợc khẳng định lại ở các Đại hội sau này. Năm 1998, Luật Giáo dục của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: … “Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; đảm bảo cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng qui mô trên cơ sở đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và tuyển dụng”. (Điều 8) 16 Điều 3, Chƣơng I, Luật Giáo dục năm 2005 có ghi: “Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”.
Bàn về đào tạo nghề, C.Mác chỉ ra nhiệm vụ cơ bản, cần thiết của đào tạo nghề gồm: “Một là: Giáo dục trí tuệ; Hai là: Giáo dục thể chất; Ba là: Dạy kỹ thuật nhằm giúp cho học sinh nắm vững đƣợc những nguyên lý cơ bản của tất cả các qui trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất”. Ănghen, Tuyển tập, tập 16, tr. UNESCO đã tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu về vấn đề gắn đào tạo với sử dụng trong đào tạo nghề. Trong đó vấn đề hợp tác đào tạo nghề giữa trƣờng và doanh nghiệp đƣợc quan tâm hàng đầu.
UNESCO đƣa ra quan điểm định hƣớng cho tất cả các nƣớc về kết hợp đào tạo nghề tại nhà trƣờng và DNSX bao gồm hai hƣớng cơ bản sau: [29] Ở Việt Nam, vấn đề kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX đã từng bƣớc đƣợc nghiên cứu ở những phƣơng diện khác nhau. Trên thực tế, kết hợp này đã đƣợc đề cập từ những năm 60. Nhằm đáp ứng yêu về lực lƣợng thanh niên vừa có trình độ vừa có văn hóa, có trình độ kỹ thuật để phục vụ cho cô ng cuộc cải cách ở nông thôn loại hình trƣờng phổ thông học nghề đƣợc tổ chức. Đặc điểm là dạy những kiến thức văn hóa cơ bản và những kiến thức kỹ thuật sơ cấp, rèn luyện trong lao động sản xuất để học sinh có thể tham gia ở các xí nghiệp.
Về hình thức tổ chức: tập trung lại thành trại sản xuất. Tuy nhiên, do những khó khăn nhất định nên loại hình này tồn tại không lâu. Đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp” mã số CB 2004 -02-03 của trƣờng Kỹ thuật và Công nghệ Hà Nội thuộc Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội. Đây là đề tài nghiên cứu tập trung và điển hình nhất vào mô hình “liên kết” giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp.
Đề tài đã giải quyết đƣợc những vấn đề cơ bản: cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình liên kết, 17 đánh giá các mô hình liên kết đã khai triển, đề xuất các mô hình liên kết. Tuy nhiên các mô hình liên kết đó nặng về tổ chức, cần đi sâu hơn nữa vào việc nghiên cứu nội dung, các thành tố kết hợp, các cơ sở khoa học còn chƣa đầy đủ, các giải pháp đề xuất cần bổ sung thêm cho đầy đủ hơn [19]. Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học liên quan hoặc đề cập trực tiếp về vấn đề kết hợp đào tạo tại trƣờng và DNSX. Điển hình là: + Năm 2004, Sở LĐ-TBXH Hà Nội đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng” [20].