Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao“chất lượng nguồn nhân lực trong”tổ chức Chương 2: Thực trạng nâng cao“chất lượng nguồn nhân lực tại trung tâm dạy nghề cho trẻ khuyết tật tỉnh nam định” Chương 3:“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”tại trung tâm dạy nghề cho trẻ khuyết tật tỉnh Nam Định” 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1.1“Chất lƣợng nguồn nhân lực” 1.1 Khái niệm về“nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực” 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên hợp quốc (UN) trong các chỉ số phát triển thế giới (World development indicators) (2000)“cho rằng: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân”và của đất nước” [23,Tr3] Theo“giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm”2009: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [22,tr12] “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [22,tr12] Khái niệm trên“chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong một tổ chức. Vậy phạm vi tổ chức nguồn nhân lực được hiểu như thế nào?” Theo giáo trình quản trị nguồn“nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân”do PGS.
Nguyễn Ngọc Quân và Ths. Nguyễn Vân Điềm chủ biên (2012) thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. [12,tr7] Từ việc nghiên cứu các khái niệm trên, trong khuôn khổ luận văn này thì 11 khái“niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được”tổ chức quản lý tốt và động viên, khuyến khích phù hợp.2 Khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực Theo“giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường đại học kinh tế quốc dân do PGS. TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm”2009 Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là: “ Trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”.
Chất lượng“nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt:”sức khỏe, trình độ học vấn, trình độc chuyên môn, trình độ lành nghề, và năng lực phẩm chất” [2,tr36].2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Trí lực Trí lực“nguồn nhân lực có thể bao gồm trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề,”kinh nghiệm làm việc. [11, tr45] Trình“độ học vấn và kiến thức chuyên môn mà nguồn nhân lực có được chủ yếu thông qua đào tạo, có thể được đào tạo về ngành hoặc chuyên ngành đó trước khi đảm nhiệm công việc; đó là các cấp bậc học trung cấp,”cao đẳng, đại học và trên đại học. “Các bậc học này chủ yếu được đào tạo ngoài công việc và đào tạo lại trong công việc họ đang thực hiện thông qua các lớp tập huấn hay bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ. Đó là sự trang bị về kiến thức chuyên môn cho nguồn nhân lực.
Bất kỳ một vị trí nào trong đơn vị đều có những yêu cầu thực hiện công việc ứng với trình độ chuyên môn nhất định. Vì vậy, việc trang bị kiến thức chuyên môn là không thể thiếu cho dù nguồn nhân lực đó được đào tạo theo hình thức nào. Kiến thức nguồn nhân lực có được thông qua nhiều nguồn khác nhau như: đào tạo, qua sự nhận thức các vấn đề trong cuộc sống xã hội mà nguồn nhân lực tiếp thu được.” Con người“không chỉ sử dụng kiến thức chuyên môn mà trong quá trình thực hiện công việc, còn cần dùng nhiều loại kiến thức khác nhau được tổng hợp, vận dụng vào thực hiện công việc thành kiến thức của nguồn nhân lực.” Kỹ năng nghề là khả năng của người lao động“trong ứng xử giải quyết 12 công“đối tượng.“Có thể các đối tượng này được đào tạo như nhau nhưng khả năng giải quyết công việc của đối tượng này ưu việt hơn, vượt trội hơn đối tượng khác. Điều đó được coi là”kỹ“năng giải quyết công việc tốt hơn, khía cạnh này người ta còn gọi là năng khiếu của nguồn nhân lực.”“Khả năng này bộc lộ thông qua sự hiểu biết, nhận thức và rèn luyện để có kỹ năng giải quyết công việc.
Kỹ năng này hình thành sự trải nghiệm thực tế hay còn gọi là điều kiện hình thành kỹ năng làm việc của nguồn nhân lực.”“Vì thế, nguồn nhân lực có thể được đào tạo như nhau nhưng có kỹ năng làm việc hoàn toàn”không“giống nhau và kỹ năng được nâng lên thông qua quá trình thực hiện thao tác trực tiếp”với công việc. Kinh nghiệm làm việc“thể hiện sự trải nghiệm trong công việc qua thời gian làm việc, có thể gọi đó là thâm niên một người có được. Có những nhận định cho rằng kinh nghiệm làm việc của một người trong một ngành là thể hiện lòng trung thành đối với”tổ chức. Người“nhiều kinh nghiệm làm việc có thể giải quyết công việc thuần thục và nhanh hơn người ít kinh nghiệm.
Kinh nghiệm làm việc kết hợp với trình độ và kỹ năng xử lý trong công việc tạo thành mức độ lành nghề của người lao động. Khả năng sáng tạo là vô tận, năng lực của con người thể hiện tư duy trong việc đưa ra các sáng kiến, các ý tưởng và có các quyết định nhanh nhạy linh hoạt trong giải quyết các vấn đề. Khả năng này không phụ thuộc vào lứa tuổi hay giới tính. Do đó, một người vừa có khả năng sáng tạo, vừa có kinh nghiệm trong công việc thì có thể có kỹ năng làm việc vượt trội hơn và là tài sản quý giá của tổ chức.”Tất cả các yếu tố thuộc về trí lực này là tài sản vô giá của tổ chức“mà con người là đối tượng sở hữu.
Khai thác trí lực của con người hoàn toàn phụ thuộc vào tổ chức mà trong đó các cấp quản trị là quan trọng nhất. Các yếu tố này không thể mang ra cân đo, đếm”và định lượng cụ thể. Thể lực Nói đến thể lực là nói đến“trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.”Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn“thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không chỉ không có bệnh tật”hay thương tật. Là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài cơ thể, giữa thể chất và tinh thần con người.
Theo tổ chức y tế thế giới WHO: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về vật chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật.” 13 Thể lực của nguồn nhân lực được hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe, tinh thần. Vì thế, thể lực của nguồn nhân lực phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phân phối thu nhập, cũng như chính sách xã hội của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức. Thể lực“tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức mạnh cơ bắp trong công việc. Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực.” Trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển càng đòi hỏi cao ở“thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu được”sức ép“căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống”trong thế giới hiện đại, cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới và sử dụng các tri thức đó thành sản phẩm có ích.
Phân loại: Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khỏe. Bộ y tế nước ta quy định có 3 loại: Loại A: Thể lực tốt, không có bệnh tật gì. Loại B: Thể lực trung bình, có bệnh, vẫn có khả năng lao động Loại C: Thể lực yếu, không có khả năng lao động. Ngoài ra thể lực của nguồn nhân lực được phản ánh bằng các tiêu chuẩn đo lường về: Chiều cao, cân năng, tuổi thọ, tình hình bệnh tật.
Căn cứ vào các chỉ tiêu để chia thành 6 loại: Rất tốt, tốt, khá, trung bình, kém và rất kém.1: Phân loại sức khỏe theo thể lực Nam Nữ Phân loại sức Chiều cao Chiều cao Cân nặng khỏe Cân nặng (kg) (cm) (cm) (kg) 1. Kém Nguồn: TT 36/ TTLT - BYT -BQP ngày 17/10/2011 của BYT- BQP 14 Thể lực“hay chính là thể chất nguồn nhân lực thể hiện vóc dáng về chiều cao, cân nặng và có thang đo nhất định. Đối với từng ngành khác nhau sẽ có yêu cầu thể chất khác nhau.“Thể chất nguồn“nhân lực được biểu hiện qua quy mô và chất lượng thể chất. Quy mô thể hiện số lượng người được sử dụng, thời gian nguồn nhân lực làm việc tại”tổ chức.“Chất lượng thể hiện thông qua độ tuổi và giới tính.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính là một thông số giúp”tổ chức “đánh giá được việc sử dụng và bố trí nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm giới tính, nhất là giới tính nữ thường có hạn chế ảnh hướng đến công việc do độ tuổi sinh đẻ, chăm sóc con nhỏ, công việc nội trợ. Độ tuổi thể hiện kinh nghiệm, bản lĩnh nhiều nhất là những người trên 40 tuổi nhưng thể lực có thể giảm sút so với nguồn nhân lực có độ tuổi dưới 40, độ tuổi này có thể có sự trải nghiệm ít so với tuổi trên 40 nhưng bù lại có thể lực tốt, có khả năng”xông pha tốt. Tâm lực Tâm lực“của nguồn nhân lực bao gồm thái độ làm việc, tâm lý làm việc và khả năng chịu áp lực công việc hay còn gọi là năng lực ý chí của nguồn nhân lực.”[1, tr48] Thái độ làm việc“chính là ý thức của nguồn nhân lực trong quá trình làm việc. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào khí chất và tính cách mỗi cá nhân.