CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN 1. Tổng quan về lao động nữ nông thôn 1. Khái niệm lao động nữ nông thôn 1. Khái niệm về lao động nữ Theo giáo trình kinh tế lao động của Đại học lao động xã hội thì Lao động nữ là lực lượng trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi, có khả năng lao động.
Lực lượng lao động nữ là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người ở độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Theo Giáo trình Kinh tế Lao động của trường ĐH Kinh tế Quốc dân thì khái niệm lao động nữ là lực lượng lao động giới tính nữ trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi hoạt động nghề nghiệp trong hệ thống phân công lao động của xã hội, có kiến thức (hiểu biết) và kĩ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. Theo từ điển tiếng Việt, lao động nữ được hiểu là việc làm cho người lao động trưởng thành và có năng lực, kỹ năng theo những tiêu chuẩn nhất định của luật lao động Việt Nam và trở nên hữu ích trong một số công việc hoặc hoạt động xã hội Trên cơ sở các khái niệm, tác giả đưa ra khái niệm lao động nữ là một bộ phận quan trọng trong lực lượng lao động của cả nước trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật từ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi. Cùng với nam giới, lao động nữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Phụ nữ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… 1. Khái niệm lao động nữ nông thôn 5 Theo Giáo trình Kinh tế Lao động của trường ĐH Kinh tế Quốc dân thì Lao động nữ là một bộ phận dân số nữ giới sinh sống và làm việc ở nông thôn. Lực lượng LĐNT là một bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người ở độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp.
Từ khái niệm LĐNT cho thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng là thách thức cho việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Do đó đẩy mạnh đào tạo nghề và tạo việc làm sau đào tạo nghề cho LĐNT là hướng giải quyết vấn đề cho LĐNT. Theo giáo trình kinh tế lao động của Đại học lao động xã hội thì lao động nữ nông thôn là một bộ phận quan trọng trong lực lượng LĐNT. Cùng với nam giới, lao động nữ nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Lao động nữ nông thôn đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa lao động nam và lao động nữ nên chúng ta phải xem xét đến các đặc thù cơ bản của lao động nữ là: 6 - Xét về phương diện giới tính: lao động nữ nông thôn thường hạn chế về thể lực so với nam giới và có thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con. Do cần mất một khoảng thời gian nhất định để nuôi con nhỏ, nên nhiều lao động nữ nông thôn bị hạn chế về thời gian đầu tư làm việc, ảnh hưởng sức khỏe, thậm chí mất cơ hội việc làm sau sinh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn được coi là “hạn chế” của phụ nữ khi đi tìm việc. - Xét trên phương diện giới: So với nam giới, điều kiện sinh hoạt của lao động nữ nông thôn thường phức tạp hơn.
Cũng do nhiều nguyên nhân chi phối, lao động nữ nông thôn thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thấp hơn lao động nam. Hiện nay, lao động nữ nông thôn chưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ lệ cao, nhất là ở vùng nông thôn. Bên cạnh đó, tính rụt rè, kém tự tin vào chính bản thân mình đang là những trở ngại dẫn đến khó tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động Trên cơ sở các khái niệm, tác giả đưa ra khái niệm lao động nữ là lực lượng nữ giới đủ tuổi lao động trên 15 tuổi đến 55 tuổi trở lên theo quy định pháp luật Việt Nam và sống và làm việc ở khu vực nông thôn ở Việt Nam đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của nông thôn 1.Vai trò của lao động nữ nông thôn Vai trò của lao động đối với quá trình phát triển kinh tế Lao động nữ một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất. Mặt khác lao động nữ là một bộ phận của dân số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển.
Sự phát triển kinh tế suy cho đến cùng đó là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho lao động nữ Lao động nữ với tăng trưởng kinh tế 7 Vai trò của lao động nữ với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉ tiêu về số lượng lao động nữ, trình độ chuyên môn lao động nữ, sức khoẻ người lao động nữ và sự kết hợp giữa lao động và các yếu tố đầu vào khác. Các chỉ tiêu này được thể hiện tập trung quá mức tiền công của người lao động nữ. Khi tiền công của người lao động nư tăng có nghĩa chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sản xuất tăng lên. Đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động nữ cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của người tiêu dùng nữ tăng.
Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người lao động nữ nông thôn nói chung là thấp, do đó ở những nước này lao động nữ nông thôn chưa phải là động lực mạnh cho sự phát triển. Để nâng cao vai trò của người lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế cần thiết có các chính sách đào tạo lao động nữ hiệu quả, đồng thời tạo ra năng suất lao động cho lao động nữ nông thôn đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương 1. Đặc điểm của lao động nữ nông thôn Tuy nhiên, sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa lao động nam và lao động nữ nên chúng ta phải xem xét đến các đặc thù cơ bản của lao động nữ là: - Thứ nhất, Phụ nữ nông thôn nói chung thường hạn chế về thể lực so với nam giới và có thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con. Do cần mất một khoảng thời gian nhất định để nuôi con nhỏ, nên nhiều phụ nữ bị hạn chế về thời gian đầu tư làm việc, ảnh hưởng sức khỏe, thậm chí mất cơ hội việc làm sau sinh.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn được coi là “hạn chế” của phụ nữ khi đi tìm việc. - Thứ hai, So với nam giới, điều kiện sinh hoạt của lao động nữ thường phức tạp hơn. Cũng do nhiều nguyên nhân chi phối, lao động nữ thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thấp hơn lao động nam. Hiện nay, lao động nữ chưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ lệ cao, nhất là ở vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, tính rụt rè, kém tự tin vào chính bản thân mình đang là những trở ngại dẫn đến khó tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động. - Thứ ba: Lao động nữ nông thôn mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính chất này. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,. Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều.
8 Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn. - Thứ tư: Lao động nữ nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lí lao động nữ tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp. - Thứ năm: Lao động nữ nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp.
Sản xuất nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động nữ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nữ nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động nam trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. - Thứ sáu: Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp nữ nông thôn mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao.
Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, của lao động nữ nông thôn chất xám không đáng kể, phân bố lao động nữ không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất. Nghiên cứu và tìm hiểu đầy đủ các đặc điểm của lao động nữ nông thôn từ đó có thể tìm ra những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động nữ trong nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung. Đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn 1. Khái niệm Theo ILO: "Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề.