Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, đào tạo nghề cho lao động nông thôn giữ vai trò then chốt trong việc tái cơ cấu kinh tế địa phương. Tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, khu vực nông thôn chiếm tới 93,63% tổng dân số với 73.027 người trên tổng số 77.998 nhân khẩu năm 2015. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện duy trì mức khả quan từ 13,5% năm 2013 lên 14,6% năm 2015, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng 28,5% trong cơ cấu kinh tế. Lực lượng lao động nông nghiệp còn dư thừa theo tính chất mùa vụ, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo bài bản còn thấp, chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp - xây dựng (chiếm 34,0%) và thương mại - dịch vụ (chiếm 37,5%).
Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Phù Cừ thông qua việc đánh giá thực trạng giai đoạn 2013–2015, phân tích các yếu tố tác động và xây dựng hệ thống giải pháp khả thi đến năm 2020. Phạm vi không gian được thực hiện trên địa bàn 14 xã, thị trấn thuộc huyện Phù Cừ, tập trung khảo sát điển hình tại 3 xã đại diện: Đình Cao, Đoàn Đào và Tống Trân. Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ năm 2013 đến năm 2015, thời gian triển khai nghiên cứu từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học nhằm nâng tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau đào tạo vượt mức 70,2%, tạo động lực dịch chuyển cơ cấu lao động bền vững theo tinh thần Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) của Gary Becker và Khung quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, xác định chất lượng đào tạo là mức độ đáp ứng nhu cầu của người học và đơn vị sử dụng lao động. Đồng thời, đề tài tiếp thu mô hình đào tạo nghề kép (Dual Vocational Training) từ Cộng hòa Liên bang Đức, nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức lý thuyết tại trường nghề và kỹ năng thực hành trực tiếp tại doanh nghiệp.
Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:
- Lao động nông thôn: Người trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên, cư trú và tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu vực nông thôn.
- Nghề: Lĩnh vực hoạt động lao động chuyên môn đòi hỏi tri thức và kỹ năng được rèn luyện để tạo ra sản phẩm vật chất hoặc tinh thần.
- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Quá trình trang bị có tổ chức các kiến thức, kỹ năng và tác phong làm việc giúp người học có khả năng tự tạo việc làm hoặc tham gia thị trường lao động.
- Chất lượng đào tạo nghề: Mức độ hoàn thiện về phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực đáp ứng tiêu chuẩn công việc của người học sau khi tốt nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Phù Cừ (2013–2015), các báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện.
Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp 120 lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề tại 3 xã đại diện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất:
- Xã Đình Cao: Đại diện cho vùng phát triển tiểu thủ công nghiệp với nghề mây tre đan và dệt may truyền thống.
- Xã Tống Trân: Đại diện cho vùng thuần nông với 90% dân số làm nông nghiệp, có nhu cầu lớn về ứng dụng khoa học kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi.
- Xã Đoàn Đào: Đại diện cho vùng trung tâm quy hoạch công nghiệp và dịch vụ, tiếp giáp thị trấn Trần Cao.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và ma trận SWOT nhằm làm rõ thực trạng biến động số lượng, đánh giá mức độ tương quan giữa chất lượng đào tạo với tỷ lệ việc làm, đồng thời xác định điểm mạnh, điểm yếu nội tại của hệ thống dạy nghề tại địa phương. Toàn bộ quy trình khảo sát và xử lý số liệu được hoàn thành trong chu kỳ nghiên cứu từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2016.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, công tác đào tạo nghề có sự tăng trưởng đáng ghi nhận về quy mô. Trong giai đoạn 2013–2015, toàn huyện Phù Cừ đào tạo nghề và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đạt bình quân 7.515 lao động/năm, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng trưởng bình quân 16,6%/năm.
Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo có sự chênh lệch lớn. Tỷ trọng đào tạo tập trung áp đảo ở khối ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm tới 91,5%, trong khi nhóm ngành nông nghiệp kỹ thuật cao và thương mại dịch vụ chỉ chiếm 8,5%, chưa phản ánh đúng tiềm năng đất đai nông nghiệp chiếm 69,49% diện tích tự nhiên của huyện.
Thứ ba, hiệu quả giải quyết việc làm sau đào tạo còn nhiều bất cập. Tỷ lệ học viên có việc làm ổn định đạt 70,2%, đáp ứng mục tiêu tối thiểu của Đề án 1956/QĐ-TTg. Tuy nhiên, vẫn còn 29,8% lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc khó tìm việc làm do tay nghề yếu và thiếu kinh nghiệm thực tế.
Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên còn hạn chế. Huyện chỉ có duy nhất Trung tâm Giáo dục thường xuyên có chức năng dạy nghề công lập. Trang thiết bị thực hành tại trung tâm mới đáp ứng khoảng 50% nhu cầu học nghề cơ bản, đội ngũ giáo viên dạy nghề chuyên trách còn thiếu, chủ yếu dựa vào giáo viên thỉnh giảng.
Thảo luận kết quả
Thực trạng 29,8% lao động chưa tìm được việc làm phản ánh sự thiếu gắn kết giữa kế hoạch đào tạo với nhu cầu tuyển dụng của thị trường. Hoạt động khảo sát nhu cầu học nghề tại các xã chưa đi sâu vào khảo sát năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp trên địa bàn huyện.
Khi so sánh với kinh nghiệm thực tế tại huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình) – nơi áp dụng đào tạo theo địa chỉ đạt tỷ lệ việc làm 85% đến 90%, hay mô hình dạy nghề gắn với đơn đặt hàng của doanh nghiệp may mặc tại huyện Yên Định (tỉnh Thanh Hóa) đạt 100% học viên có việc làm với thu nhập 2,5 đến 3,0 triệu đồng/tháng, Phù Cừ vẫn còn triển khai đào tạo mang tính hình thức, thiếu cam kết đầu ra.
Để phân tích trực quan, dữ liệu thực trạng có thể được mô tả qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu việc làm sau đào tạo (70,2% có việc làm ổn định, 29,8% chưa có việc làm hoặc làm việc bấp bênh) và bảng ma trận SWOT làm nổi bật thách thức trong việc thiếu hụt kinh phí đầu tư máy móc công nghệ cao. Điều này cho thấy việc chuyển đổi sang mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Đổi mới công tác điều tra nhu cầu và tổ chức đào tạo: Tiến hành khảo sát định kỳ 100% nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại các cụm công nghiệp huyện Phù Cừ. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban nhân dân 14 xã, thị trấn thiết lập cơ sở dữ liệu cung - cầu lao động trước quý II hàng năm, đảm bảo 100% lớp học nghề mở ra đều xuất phát từ nhu cầu thực tế.
-
Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy: Tổ chức các khóa đào tạo nâng chuẩn sư phạm nghề nghiệp cho 100% giáo viên cơ hữu tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên đến năm 2018. Thực hiện chính sách thu hút nghệ nhân giỏi từ làng nghề mây tre đan Đình Cao và thợ bậc cao tại các xí nghiệp tham gia giảng dạy thực hành với mức phụ cấp thỏa đáng.
-
Hiện đại hóa cơ sở vật chất và đổi mới giáo trình: Ủy ban nhân dân huyện Phù Cừ tăng mức phân bổ ngân sách tối thiểu 15% mỗi năm cho công tác mua sắm trang thiết bị thực hành cơ khí, may công nghiệp và chế biến nông sản. Tái cấu trúc chương trình học theo tỷ lệ chuẩn 30% lý thuyết và 70% thực hành sản xuất trực tiếp, áp dụng từ năm học 2016–2017.
-
Xây dựng mô hình liên kết ba bên bền vững: Trung tâm Dạy nghề chủ động ký kết hợp đồng đào tạo theo địa chỉ với tối thiểu 15 doanh nghiệp trong và ngoài huyện. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ lao động có việc làm ổn định sau đào tạo đạt trên 85%, đồng thời hỗ trợ người học tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để tự tạo việc làm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và tỉnh: Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội sử dụng số liệu thực chứng để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách dạy nghề theo Đề án 1956/QĐ-TTg và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực địa phương.
- Ban Giám đốc các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp: Tham khảo phương pháp phân bổ tỷ lệ lý thuyết - thực hành (30/70) và mô hình quản lý chất lượng để cải tiến giáo trình, nâng cao tỷ lệ học viên đạt loại khá, giỏi.
- Doanh nghiệp và chủ cơ sở sản xuất kinh doanh: Vận dụng mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng nhằm giảm thiểu chi phí tuyển dụng lại, đảm bảo tuyển dụng đúng nguồn lao động đáp ứng chuẩn kỹ năng vận hành máy móc.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế: Tiếp cận khung phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, quy trình chọn mẫu thực địa 120 phiếu khảo sát và ma trận đánh giá chất lượng dạy nghề nông thôn làm tài liệu tham khảo cho các đề tài tương đồng.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao cơ cấu ngành nghề đào tạo tại huyện Phù Cừ lại tập trung tới 91,5% vào khối công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp?
Do sự hình thành và mở rộng của các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, cùng sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề truyền thống như mây tre đan Đình Cao và vật liệu xây dựng Quang Hưng. Nhu cầu tuyển dụng lao động may mặc, gia công tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh đã thúc đẩy các cơ sở tập trung mở rộng quy mô đào tạo nhóm ngành này.
Nguyên nhân chính khiến 29,8% lao động sau đào tạo chưa có việc làm ổn định là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do công tác khảo sát nhu cầu học nghề chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của nhà tuyển dụng. Bên cạnh đó, thời lượng thực hành trên máy móc hiện đại còn hạn chế (chỉ chiếm dưới 50% thời lượng), khiến tay nghề và tác phong công nghiệp của học viên chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng khắt khe.
Mô hình đào tạo nghề kép của Đức được đề xuất ứng dụng tại địa phương như thế nào?
Mô hình được áp dụng thông qua việc chia tách quá trình học: Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện đảm nhiệm giảng dạy 30% kiến thức lý thuyết cơ bản và an toàn lao động, trong khi 70% thời gian còn lại học viên được gửi trực tiếp vào các xưởng sản xuất, doanh nghiệp để thực hành trên dây chuyền thật.
Cỡ mẫu 120 lao động tại 3 xã có đảm bảo tính đại diện cho huyện Phù Cừ không?
Cỡ mẫu 120 lao động được phân bổ tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng kinh tế sinh thái đặc thù của huyện: xã Đoàn Đào (công nghiệp - dịch vụ), xã Đình Cao (làng nghề tiểu thủ công nghiệp) và xã Tống Trân (thuần nông nghiệp 90%). Sự phân tầng này đảm bảo tính khách quan và bao quát toàn bộ bức tranh lao động của huyện.
Giải pháp nào giúp nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn sau khi hoàn thành khóa học nghề?
Giải pháp then chốt là gắn đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao và đào tạo kỹ năng quản trị kinh doanh nhỏ. Kết hợp dạy nghề với giải ngân vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội giúp học viên tự thành lập mô hình trang trại, tổ hợp tác, đạt mức thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo chuẩn mực phát triển kinh tế.
- Đánh giá xác thực kết quả đào tạo giai đoạn 2013–2015 với mức bình quân 7.515 lượt người/năm, tốc độ tăng trưởng quy mô đạt 16,6%/năm.
- Làm rõ hạn chế cốt lõi về sự mất cân đối ngành nghề (91,5% công nghiệp) và tỷ lệ 29,8% học viên chưa tìm được việc làm ổn định sau tốt nghiệp.
- Xác lập 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp gồm: chính sách nhà nước, năng lực giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình học và trình độ học viên đầu vào.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào mô hình liên kết đào tạo ba bên nhằm nâng tỷ lệ có việc làm lên trên 85% vào năm 2020.
Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp khung giải pháp quản lý thực tế, có tính ứng dụng cao cho huyện Phù Cừ nói riêng và các huyện đồng bằng Bắc Bộ nói chung. Các cấp chính quyền địa phương và cơ sở dạy nghề cần khẩn trương đưa các giải pháp liên kết doanh nghiệp vào thực tiễn ngay từ năm học 2016–2017 nhằm tối ưu hóa nguồn lực lao động nông thôn.