CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Khái quát Hộ kinh doanh cá thể 1. Khái niệm Hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể (HKDCT) ra đời và hình thành, phát triển cùng với sự phát triển của gia đình trong xã hội. Tuy nhiên HKDCT theo lịch sử phát triển của xã hội loài người thì thường xuất hiện sau, tức là phải đến một trình độ tiến hành sản xuất trong gia đình, sau đó đến mức độ cao hơn nữa là trình độ sản xuất hàng hoá. Theo đó hộ kinh doanh thường được hiểu là tập hợp một số người, một nhóm người có quan hệ huyết thống cùng cư trú, sinh sống trong một ngôi nhà, ở một địa điểm cụ thể tại một địa phương, có quan hệ sinh hoạt, cuộc sống, lao động sản xuất, tình cảm gắn bó chặt chẽ với nhau.
Hộ kinh doanh cá thể cũng có thể chỉ có một người, hoặc hai người,…Hộ kinh doanh đó có thể tiến hành sản xuất, hoạt động kinh doanh, hay làm dịch vụ, nhưng cũng có thể không tiến hành sản xuất, mà làm công nhân, làm thuê, hay làm việc trong các cơ quan, trường học, hoặc chỉ hưởng chế độ trợ cấp xã hội,… Theo điều 49 của Nghị Định 43/2010/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 4/10/2010 về đăng ký doanh nghiệp định nghĩa: Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Như vậy, hộ kinh doanh cá thể thực chất cũng là một loại hình Doanh ng - hiệp và vẫn được pháp luật công nhận và bảo vệ nhưng phạm vi kinh doanh chỉ nhỏ hẹp trong quận, huyện. Số lượng lao động Hộ kinh doanh cá thể không được quá 10 người và khi thay đổi quy mô kinh doanh thì phải đăng ký để thành lập Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 3 doanh nghiệp. Cá nhân đăng ký kinh doanh hộ cá thể tại Ủy Ban Nhân Dân cấp Quận, huyện.
Hộ kinh doanh cá thể thường hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh do- anh, dịch vụ. có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… đó có thể là có đăng ký kinh doanh, hoặc không đăng ký kinh doanh, nhưng chưa đến mức đăng ký thành lập doanh nghiệp, tuỳ theo quy định của pháp luật và tuỳ theo nhận thức, mục đích của gia đình. Các hoạt động đó cũng có thể nằm trong một phạm vi một tổ chức: Hợp tác xã, màng lưới vệ tinh cho doanh nghiệp, gia công cho doanh nghiệp… hay tiến hành độc lập.
Nội dung này để phân biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ với hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế. Cũng có thể một gia đình có quy mô sản xuất kinh doanh lớn hơn hoặc bằng một doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí họ có thuê thêm lao động bên ngoài, nhưng họ không đăng ký thành lập doanh nghiệp vì họ thấy không cần thiết, hoặc không có lợi, hoặc không bị cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu. Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hộ kinh doanh cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ.
Đặc điểm của thành phần kinh tế này là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động. Thành phần kinh tế này rất nhạy bén trong kinh do- anh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế. Hộ kinh doanh cá thể có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Những ưu thế của thành phần kinh tế cá thể là: Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 4 - Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Nhờ đó họ có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến. - Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ. Điều này cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu.
Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như hiện nay. Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc đã biết vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế. - Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn. Do đó, nếu có các chính sách kinh tế hợp lý sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng.
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm có khoảng 1,5 đến 2 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm nhiều loại hình như công nhân, kỹ sư, cử nhân kinh tế. nhưng khả năng thu hút lao động của khu vực nhà nước lại rất hạn chế, thậm chí dư thừa một số lao động hiện có do sắp xếp lại quá trình sản xuất. Vì vậy, tình trạng người có sức lao động nhưng chưa có việc làm và người có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động còn phổ biến.
Với hình thức kinh doanh linh hoạt trong nhiều ngành nghề và sử dụng công nghệ - kỹ thuật thủ công, khu vực kinh tế cá thể có khả năng tận dụng lao động dôi thừa trong xã hội. - Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của HKDCT cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhu cầu của xã hội, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên thực tế, có những ngành nghề nếu tổ chức sản xuất tập thể hoặc do Nhà nước đảm nhiệm với Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 quy mô lớn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hơn so với việc tổ chức sản xuất nhỏ ở các hộ gia đình. Bên cạnh những ưu thế trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế.
Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hoá. Sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường, nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình chịu nhiều tác động của thời tiết, khí hậu, thiên tai, ốm đau của các thành viên trong gia đình; sản phẩm làm ra và dịch vụ cung ứng chịu sự tác động lớn của biến động thị trường, giá cả.
Bởi vậy ảnh hưởng nhất định đến tính ổn định về thu nhập, về đời sống, đến rủi ro vốn vay ngân hàng. Để phát huy được những tiềm năng vốn có và khắc phục được những khiếm khuyết trên, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành phần kinh tế cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả theo định hướng XHCN, trở thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước. Đối với Ngân hàng, hộ kinh doanh cá thể thường không có nhiều hiểu biết về các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, ngại quy trình thủ tục rườm rà. Công việc kinh doanh thường không ghi chép sổ sách bán hàng, lưu giữ chứng từ xuất nhập hàng.
Điều này cũng gây một phần bất lợi cho quyết định cho vay của Ngân hàng, do chứng từ không phản ánh chính xác quy mô của hoạt động kinh doanh khách hàng. Người vay thường là không thể xây dựng phương án, đề án vay vốn như Tổ chức tín dụng yêu cầu đối với doanh nghiệp mà thường là sử dụng đơn xin vay. Cũng do trình độ mọi mặt của người vay hạn chế, nên cán bộ ngân hàng thường xuyên phải giám sát sử dụng vốn vay, đôn đốc trả nợ, trả lãi. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 So với các doanh nghiệp thì Hộ kinh doanh cá thể có món vay nhỏ, thường được giải ngân một lần, thời hạn vay ngắn bình quân chỉ 12 tháng, hoặc 6 tháng.
Do đó chi phí cho vay cao, thao tác cho vay nhiều, tốn kém ấn chỉ, giấy tờ hạch toán và theo dõi, tạo sự vất vả cho cán bộ ngân hàng, dễ gây nên tình trạng quá tải cho cán bộ tín dụng, nhưng vốn quay vòng nhanh, tỷ lệ an toàn cũng cao hơn do phân tán được rủi ro. Hoạt động sản xuất của hộ càng phát triển, quy mô càng lớn, trình độ càng nâng lên thì nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng càng thường xuyên hơn và càng lớn hơn. Sự quan hệ thường xuyên và đông đảo của HKDCT đối với TCTD chứng tỏ trình độ phát triển của nền kinh tế đó, chứng tỏ trình độ phát triển HKDCT ở mức độ khá và cao. Họ sử dụng vốn linh hoạt hơn và sử dụng dịch vụ ngân hàng cũng thường xuyên hơn.