Chương 1: Cơ sở lý luận về An ninh môi trường dưới góc độ An ninh phi truyền thống. 7 Chương 2: Thực trạng an ninh môi trường làng nghề tại xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo An ninh môi trường làng nghề xã Phùng Xá. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH MÔI TRƯỜNG DƯỚI GÓC ĐỘ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1.
Nhận thức chung về an ninh môi trường làng nghề và an ninh phi truyền thống 1. Khái niệm chung về an ninh phi truyền thống Theo tác giả Hoàng Đình Phi, quản trị an ninh phi truyền thống được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu. Để có thể đạt được mục tiêu chính trong việc đảm bảo an ninh phi truyền thống đòi hỏi sự tham gia của cả ba chủ thể là: Nhà nước; Con người/Cộng đồng; và Doanh nghiệp cùng với sự vận dụng các công cụ chính như: Sức mạnh & nguồn lực Nhà nước; Sức mạnh, nguồn lực cộng đồng; và sức mạnh nguồn lực của doanh nghiệp. [1] An ninh phi truyền thống khác biệt với an ninh truyền thống ở việc đặt con người làm trọng tâm của các vấn đề như an ninh nhà nước, an ninh cộng đồng (cá nhân) và an ninh doanh nghiệp.
Để quản trị an ninh phi truyền thống đối với một chủ thể, chúng ta có thể vận dụng phương trình quản trị an ninh phi truyền thống sau đây: Phương trình cơ bản của một chủ thể luôn xuyên suốt và đặt nền móng cho các phương trình an ninh phi truyền thống như sau: S= (S1+S2+S3) – (C1+C2+C3) Trong đó: S = An ninh của chủ thể S1 = An toàn S2 = Ổn định S3 = Phát triển bền vững C1 = Chi phí quản trị rủi ro C2 = Chi mất do khủng hoảng C3 = Chi phí khắc phục khủng hoảng (Nguyễn Văn Hưởng, Hoàng Đình Phi, 2016) 9 Phương trình an ninh phi truyền thống của chủ thể được sử dụng như một công cụ để hiểu về lĩnh vực an ninh phi truyền thống và được sử dụng để hình dung các công thức khác nhau gắn liền với nhiều ngành nghề khác nhau. Từ đó cấu thành các phương trình cụ thể, có khả năng ứng dụng cao với đối tượng phương trình. Khái niệm An ninh môi trường 1. Khái niệm về môi trường Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2020 (72/2020/QH14): “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Thành phần môi trường được tạo thành bởi các yếu tố sau đây: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác. Trong đó, không khí, đất, nước, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên. là các yếu tố tự nhiên (các yếu tố này xuất hiện và tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người); khu dân cư, khu sản xuất, di tích lịch sử. là yếu tố vật chất nhân tạo (các yếu tố do con người tạo ra, tổn tại và phát triển phụ thuộc vào ý chí của con người).
Không khí, đất, nước, khu dân cư. là các yếu tố cơ bản duy trì sự sống của con người, còn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh. có tác dụng làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú và sinh động. Môi trường có các chức năng cơ bản sau: - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Tuy nhiên sức chứa và khả năng đồng hóa chất thải của môi trường là có giới hạn. - Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. 10 Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, hoạt động sản xuất lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng môi trường, không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Các yếu tố ảnh hưởng đến An ninh môi trường Theo Nguyễn Đình Hòe và Nguyễn Ngọc Sinh (2010) nguyên nhân gây mất an ninh môi trường bao gồm: Bản thân hệ môi trường có thể gây mất an ninh một cách tự nhiên. Ví dụ một vùng bị thiên tại như lũ lụt, động đất, núi lửa. Một hệ môi trường có thể mất an ninh do hoạt động của con người. Hoạt động nhân sinh (công nghiệp, khai thác và chế biến tài nguyên, sản xuất tài làng nghề, sinh hoạt…) có thể dẫn đến những biến đổi môi trường.
Những vấn đề về sa mạc hóa, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã từng được thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế và là đối tượng nghiên cứu nhiều năm. Tuy nhiên, lại nảy sinh nhu cầu phải phân tích những hiểm họa bắt nguồn từ những suy thoái môi trường xảy ra trường diễn trong mối quan hệ với các điều kiện chính trị và kinh tế - xã hội đang chiếm ưu thế trong một khu vực, nhằm xác định những phương tiện có thể ngăn ngừa tình trạng không ổn định có thể dẫn đến xung đột và di cư. Mất an ninh môi trường không phải lúc nào cũng đe dọa nơi cứ trú và dẫn đến tình trạng tị nạn. Con người vẫn luôn có khả năng thích ứng với hoàn cảnh.
Nếu tài nguyên trở nên hiếm hoi, họ có thể sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn hoặc sử dụng loại khác thay thế. Suy thoái đất có thể ngăn chặn hay giảm bớt nhờ sử dụng kỹ thuật canh tác thích hợp. Bùng nổ dân số và tăng cường tiêu thụ tài nguyên là những yếu tố mấu chốt gây tàn phá môi trường. Việc khai thác, chế biến sử dụng tài nguyên không hợp lý cũng như những bất cập trong phân phối tài nguyên có thể dẫn tới xung đột gay gắt, kể cả trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế.
Gia tăng thiếu hụt tài nguyên nước do khai thác quá mức và do ô nhiễm, sự phân chia không công bằng tài nguyên nước là 11 một ví dụ chứng minh rằng suy thoái môi trường là một mối quan tâm chủ yếu của chính sách quan hệ quốc tế, cứu vãn hòa bình và hợp tác phát triển. Gia tăng thiên tai cũng là một trong những nguyên nhân phá hoại các phương tiện sinh sống cơ bản của người dân. Những hoàn cảnh khó khăn có thể thúc đẩy những người nghèo di chuyển đến những vùng dễ bị thiên tai và nghèo tài nguyên thiên nhiên, không phù hợp với sản xuất và cư trú. Kết quả là họ lại tiếp tục gây suy thoái những vùng đất mới và lại tiếp tục thu hẹp điều kiện sống của mình.
Những biểu hiện mất an ninh môi trường ở Việt Nam Tình trạng ô nhiễm môi trường sống (hay còn gọi là quá trình tự hủy diệt) do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra gây bức xúc trong dư luận. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đến an ninh môi trường của các thế hệ hiện tại và tương lai. Ô nhiễm môi trường gồm ba loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí và ô nhiễm nước. Hiện nay cả ba loại ô nhiễm này đều vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép tại các khu công nghiệp, làng nghề, đô thị lớn và có chiều hướng ngày càng trầm trọng.
- Ô nhiễm các dòng sông (Thị Vải, Đồng Nai, Nhuệ, Đáy, Bưởi…); ô nhiễm biển (fomosa, tràn dầu ở sông Saigon…). - Ô nhiễm làng nghề. - Ô nhiễm rác thải y tế, rác thải sinh hoạt. - Ô nhiễm công nghiệp.
- Ô nhiễm khai thác tài nguyên… Việt Nam là một trong 5 quốc gia ở khu vực châu Á đang phải chịu nhiều hậu quả do biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong 50 năm qua, thời tiết ở nước ta có nhiều thay đổi bất thường. Nhiệt độ trung bình hàng năm đều tăng. Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nông dân, nhất là các hiện tượng khí hậu cực đoan như: nước biển dâng, xâm nhập mặn đang mất đi nhiều diện tích trồng cây lương thực.
Sự bất thường của chu kỳ khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút mùa màng mà còn gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác. 12 Những năm trở lại đây, cả nước liên tiếp xảy ra thiên tai như lũ lụt, ngập úng lớn, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán… gây thiệt hại nặng nề đến đời sống nhân dân. Ngoài ra, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng tị nạn môi trường, khí hậu do mất nơi ở, thiếu đất sản xuất, môi trường biến đổi, bệnh tật, đói nghèo, dẫn đến nhiều bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội. An ninh môi trường làng nghề 1.
Khái quát về làng nghề Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn.hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động. Làng nghề truyền thống là làng nghề có các hoạt động ngành nghề được hình thành từ lâu đời, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay. Theo nghị định của Chính phủ ban hành: Nghị định 52/2018/NĐ-CP quy định về phát triển ngành nghề nông thôn năm 2018.