Chương 1: “Tổng quan”với nội dung: 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (i) Khái quátbối cảnh đàm phán vềBiến đổi khí hậu; (ii)Giới thiệu về sự hình thành NAMA; (iii)Tình hình thực hiện NAMA ở một số nước trên thế giới và tình hình xây dựng và thực hiện NAMA ở Việt nam; (iv) Khái quát về các chính sách, chiến lược, văn bản pháp luật liên quan đến BĐKH ở Việt Nam Chương 2:"Đánh giá tiềm năng thực hiện NAMA ở Việt Nam": (i) Đánh giá tiềm năng giảm phát thải của của các lĩnh vực trọng điểm bao gồm năng lượng và nông nghiệp; (ii) Đánh giá năng lực thực hiện NAMA của các bên liên quan theo định tính và định lượng. Chương 3: "Đề xuất cơ cấu tổ chức và cơ chế thực hiện NAMA tại Việt Nam" : Đề xuất cơ cấu tổ chức, cơ chế thực hiện NAMA cho Việt Nam thông quanhững phân tích về kinh nghiệm quốc tế, những khó khăn, tồn tại khi thực hiện NAMA ở các chương trước và tình hình thực tiễn tại Việt Nam. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương1: TỔNG QUAN 1.Bối cảnh quốc tế về đàm phán biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu và tác động củanó đã khiến cho cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng nhận thức được tầm quan trọng và nhu cầu cần chung sức xây dựng và thực hiện cam kết quốc tế có tính ràng buộc pháp lý để chống lại cuộc chiến với biến đổi khí hậu thông qua các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu. Tháng 6 năm 1992, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (sau đây viết tắt là UNFCCC) được Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất và Môi trường họp tại Rio de Janero, Bra-xin thông qua và có hiệu lực vào năm 1994.
Mục tiêu của Công ước là “đạt được sự ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức đócần phải đạt được trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, bảo đảm rằng việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế một cách bền vững”. Ngày 11 tháng 12 năm 1997, nhằm cụ thể hoá các mục tiêu giảm phát thải cũng như quy định rõ hơn các ràng buộc mang tính pháp lý đặc biệt là đối với các nước công nghiệp phát triển trong việc cắt giảm phát thải, Nghị định thư Kyoto (sau đây viết tắt là KP) được thông qua tại Kyoto, Nhật Bản và có hiệu lực vào ngày 16 tháng 02 năm 2005 với 184 nước phê chuẩn. Giai đoạn cam kết lần thứ nhất của KP đã kết thúc vào năm 2012 và giai đoạn cam kết thứ hai bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013 và kết thúc vào năm 2020.
Hiện nay, cộng đồng quốc tế đang đàm phán để xây dựng một khuôn khổ pháp lý mới mang tính ràng buộc với tất cả các quốc gia. Dự kiến thỏa thuận quốc tế mới này sẽ được thông qua tại Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia UNFCCC tại Paris, Pháp, vào năm 2015 và có hiệu lực từ năm 2020. Hô ̣i nghi ̣các Bên tham g ia Công ước khí hâ ̣u (sau đây viết tắt là COP ) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (sau đây viết tắt là CMP ) là Hội nghị thường niên của các Bên tham gia Công ước khí hâ ̣u và Nghi ̣đinh ̣ thư Kyoto nhằ m kiể m điể m , tổ ng kế t tình hình thực hiện Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto ; đồ ng thời thảo luâ ̣n , đưa ra các giải pháp hoa ̣t đô ̣ng nhằ m thúc đẩ y tiế n trình thực 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiê ̣n các cam kế t trong khuôn khổ Công ước khí hâ ̣u và Nghi ̣đinh ̣ thư Kyoto trên phạm vi toàn cầu. Cùng với COP và CMP , Ban Bổ trơ ̣ về Tư vấ n Khoa ho ̣c và Công nghê ̣ (SBSTA) và Ban Bổ trợ về Thực hiện (SBI) là hai cơ quan thường trực hoạt động trong khuôn khổ của Công ước khí hâ ̣u, chịu trách nhiệm đưa ra các ý kiến tư vấn cho các cuộc họp của COP và CMP.
Mỗi Ban có nhiê ̣m vu ̣ cu ̣ thể và theo thông lê ̣ đươ ̣c t ổ chức ho ̣p ít nh ất 02 lần một năm. Trong khuôn khổ COP và CMP cũng diễn ra các Khóa họp của Nhóm Công tác đặc biệt về các cam kế t tiế p theo đố i với các Bên thuô ̣c Phụ lục I của Nghị định thư Kyoto (AWG-KP) và Nhóm Công tác đặc biệt về hoạt đô ̣ng hơ ̣p tác dài ha ̣n trong khuôn khổ Công ước khí hâ ̣u (AWG-LCA). Mục tiêu của UNFCCC là nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được trước những tác động của con người. Công ước đã được cụ thể hoá bằng nghị định thư Kyoto với những quy định về tỉ lệ giảm phát thải đối với các quốc gia phát triển và các hình thức xử phạt nếu không tuân thủNghị định thư bắt buộc những quốc gia thành viên bằng mọi giá cần phải cắt giảm 5% lượng phát thải khí nhà kính so với mức phát thải tại thời điểm năm 1990.
Đây thực sự là trách nhiệm nặng nề đối với những quốc gia công nghiệp hóa. Vì vậy, 3 cơ chế mềm dẻo đã được đưa ra nhằm giúp những nước này có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển. Đó là cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation viết tắt là JI), cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế (International Emission Trade viết tắt là IET) và cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism viết tắt là CDM). Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia phát triển với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển bền vững.
CDM là một trong các cơ chế thương mại phát thải dựa trên thị trường chính thức của Công ước khí hậu và Nghị định Thư Kyoto nhằm khuyến khích các hoạt động giảm phát thải KNK tự nguyện thông qua việc thực hiện các dự án giảm phát thải KNK. Tại Hội nghị COP16, các bên của Công ước khí hậu và Nghị định Thư đã thông qua Quyết định của COP, trong đó có nội dung thúc đẩy và tăng cường các hoạt động CDM trên toàn thế giới và coi đây là một trong những hoạt động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giảm phát thải KNK. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com COP17 tại Durban, Nam Phi, hơn 40 quốc gia đang phát triển đã trình bày đề xuất tới UNFCCC nhằm hạn chế lượng khí thải các-bon vào năm 2020 (cho tới tháng 10 năm 2012 là 45 quốc gia). Nhiều quốc gia khác vẫn đang trong quá trình xây dựng các mục tiêu để đệ trình cho UNFCCC.
Những đề nghị này được gọi là các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (nationally appropriate mitigation actions - NAMA) và có thể giúp các nước đang phát triển phát triển theo hướng kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng bền vững. Khái quát về NAMA NAMA(Nationally Apropriate Mitigation Action ) là một tập hợp các chính sách và hành động mà các nước đang phát triển có thể thực hiện và được xem như là một phần của cam kết giảm nhẹ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Nguyên tắc của UNFCCC công nhận rằng các nước có thể có các hành động khác nhau phù hợp với điềukiện quốc gia trên cơ sở công bằng và phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và khả năng tương ứng của từng quốc gia. Các nguyên tắc cơ bản của NAMA cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải thải khí nhà kính.
Thuật ngữ NAMA lần đầu tiên được sử dụng trong Kế hoạch hành động Bali (năm 2007) và được coi là một phần của Lộ trình Bali tại Hô ̣i nghi ̣các Bên tham gia Công ước khung của Liên hơ ̣p quố c về biế n đổ i khí hâ ̣u (COP lần thứ 13) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (CMP lần thứ 3) ở Bali, Indonesia vào tháng 12 năm 2007. NAMA sau đó cũng được đề cập tại Hiệp ước Copenhagen tại COP 15/CMP5 trong tháng 12 năm 2009 tại Copenhagen, Đan Mạch. Kế hoạch hành động Bali bao gồm bốn hạng mục chính: (i) giảm nhẹ, (ii) thích ứng, (iii) công nghệ, và (iv) tài chính. NAMA là một phần quan trọng của hạng mục giảm nhẹ.
Kế hoạch hành động Bali kêu gọi các cuộc thảo luận nhằm tăng cường giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển, bao gồm các vấn đề sau: Đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV)cấp quốc gia và quốc tế nhằm gia tăng các biện pháp thích hợp trong giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại các nước đang phát triển và các cam kết hành động của các nước phát triển; 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia của các nước đang phát triển thông qua sự hỗ trợ tài chính, công nghệ và tăng cường năng lực trên cơ sở có thể đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) được. Hô ̣i nghi ̣các Bên tham gia Công ước khung của Liên hơ ̣p quố c về biế n đổ i khí hâ ̣u (COP lần thứ 15) và Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto (CMP lần thứ 5) tổ chức vào tháng 12 năm 2009 tại Copenhagen, Đan Mạch đã không đưa ra được các thỏa thuận toàn cầu được đề ra trong Lộ trình Bali. Hiệp ước Copenhagen, tuy nhiên, đã giữ lại các khái niệm về NAMA, nhưng trong một định nghĩa hẹp hơn khi chỉ áp dụng cho các quốc gia không thuộc Phụ lục 1. Do đó, NAMA, lẽ ra được áp dụng cho tất cả các quốc gia đã trở thành hành động chỉ riêng cho các nước đang phát triển.
Hiệp ước Copenhangen cũng không đưa ra được các hình thức mà các nước đang phát triển cần thực hiện.