ĐẶT VẤN ĐỀ Từ ngàn đời nay Trầm hương luôn được biết đến là một loài cây gỗ quý hiếm và có nhiều công dụng khác nhau. Cây trầm hương quý là bởi trong cây có chứa tinh chất Trầm (một loại sản phẩm đa tác dụng được nhiều người ưu thích). Trầm được sử dụng làm nhiều việc khác nhau như làm hương, dược liệu, một số đồ mỹ phẩm, đồ vật tâm linh, phong thủy. Nước hoa có tinh chất Trầm hương thì sẽ giữ được mùi thơm rất lâu.
Ngoài làm nước hoa thì Trầm hương còn là một vị thuốc đặc sản quý hiếm của Việt Nam. Theo Đông y, Trầm hương là vị thuốc quý hiếm có mùi thơm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyễn, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở, kích dục. “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi (tái bản năm 2004) và nhiều tài liệu khác về dược liệu, đông y, đều cho rằng Trầm hương là dược liệu quý, sử dụng trong hàm trăm bài thuốc y học cổ truyền, chữa bệnh rất hiệu nghiệm. Theo Tây y, Trầm hương có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch ( suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh…), bệnh về tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện), đặc biệt là một số dạng ung thư Ngoài ra, Trầm hương còn là cây gỗ đa tác dụng có giá trị kinh tế cao.
Từ gỗ Trầm hương người ta có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau, gỗ Trầm hương cho lượng Trầm thấp còn có thể dùng để tạc tượng, làm vòng đeo tay, một số loại nhang đốt ( nhanh thẻ, nhang vòng, nhang tháp) và một số sản phẩm mỹ nghệ, đồ vật phong thủy khác vì có mùi vị thơm dịu đặc chưng. Trà từ lá Trầm Hương là một loại trà có thể thay thế các loại đồ uống có tính nóng, gây nghiện bởi nó không có bất cứ chất gây nghiện nào, giàu 1 hydrat hóa tự nhiên, không có đường. Loại trà này cung cấp cho người sử dụng một sức khỏe dồi dào. Chính vì có giá trị đặc biệt quý giá, nên cây Trầm hương ở Việt Nam đã bị khai thác cạn kiệt.
Hầu như những người khai thác Trầm thường chặt nhầm nhiều cây không có hoặc mới ở giai đoạn bắt đầu hình thành Trầm. Do đó, cây Trầm hương ở Việt Nam đã được xếp vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 (phân hạng EN A1 c,d, B1 + 2b,c,e) và Danh lục CITES thế giới. Trước tình hình đó, cây Trầm hương đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, hy vọng sẽ cứu được Trầm hương trước bờ vực tuyệt chủng. Xã Tân Dân là một xã miền núi, nằm ở phía Tây Bắc cách trung tâm huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh khoảng 27km, đây là một xã còn nhiều khó khăn của huyện, người dân chủ yếu là dân tộc Dao, có trình độ dân trí thấp.
Từ lâu, một số hộ dân ở đây đã biết lên khai thác Trầm từ các cây Trầm trong tự nhiên và lấy hạt đem gieo trồng trong vườn nhà và được các thương lái thu mua với giá cao, mang lại thu nhập cho người dân. Tuy nhiên với trình độ dân trí còn thấp và chưa được sự quan tâm chặt chẽ của các cấp chính quyền cho nên các mô hình này chưa thật sự phát huy hết tối đa các giá trị của nó. Hiện nay, loài cây đặc biệt có giá trị này chỉ mới được quan tâm nghiên cứu khoảng một vài thập niên trở lại đây, hầu hết mới chỉ được nghiên cứu về các phương thức tạo Trầm bằng các chế phẩm sinh học hay vấn đề nhân giống, nuôi cấy mô. chứ chưa thực sự quan tâm đến thực trạng phát triển của loài cây này.
Với mong muốn được nghiên cứu các đặc điểm về sinh thái và phân bố của Trầm hương nhằm phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn và gây trồng Trầm tự nhiên giúp phát triển kinh tế của người dân tại địa phương có Trầm hương nên tôi đã chọn đề tài:“ Một số đặc điểm sinh vật học, phân bố và thực trạng gây trồng Trầm hương(Aquilaria crassna Pierre) tại xã Tân Dân huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về Trầm hƣơng trên thế giới Trầm hương là một loài cây đặc hữu của Đông Nam Á, chỉ xuất hiện ở một số nước như Lào, Thái Lan, Campuchia. Tuy rằng Trầm hương có nhiều công dụng như khi nhắc tới Trầm hương, thì người ta nghĩ ngay tới Trầm kỳ và kỳ nam.
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến sản phẩm này của Trầm hương. Malaysia năm 1986, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu thông qua kết quả thí nghiệm sinh hóa, tiến sĩ Julaju đã có kết luận quá trình hình thành Trầm hương ở trên cây Trầm có liên quan tới bệnh lý. Nguồn gốc là do loài nấm Criptophocrica Mangifera cộng sinh với gỗ mà thành. Năm 1989, ở Thái Lan bà Naiya Thongijem và các cộng sự lại cho rằng quá trình hình thành Trầm trong tự nhiên ở thân gỗ loài Trầm hương có liên quan tới các loại nấm: Cophalos porium, Fusarium, Bortyddiploia, Chactomium.
Một số tài liệu khác lại cho rằng Trầm được tạo thành do một loại sâu đục gây tổn thương cho cây làm cây tiết ra nhựa, nhựa tích tụ lâu ngày tạo thành Trầm kỳ, kỳ nam. Những nghiên cứu ở Ấn Độ và Burma, D. Sharmacho thấy có nhiều loài sâu hại trong đó có loài sâu hại nguy hiểm như loài Hoertia vitessoides (Pyralidae: Lepidoptera) Moore. Đây là loài sâu hại lá, đỉnh sinh trưởng và chồi non, ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây.
Đến năm 1994-1995 trường ĐH Kyoto (Nhật), nghiên cứu thành công phương pháp cấy tạo trầm bằng men vi sinh và phương pháp này tiếp tục được GS Gishi Honda thử nghiệm tại Trung Quốc với tỉ lệ thành công trên 80%. Những năm gần đây, GS Gishi Honda (Nhật) và GS TS Trần Kim Qui 3 (Việt Nam) đã ứng dụng quy trình công nghệ sinh học này để gây tạo trầm trên thân gỗ của cây dó bầu tại Lâm Đồng – Việt Nam, kết quả bước đầu cho thấy sau cấy men từ 6-12 tháng lượng trầm thu được trên một cây vào khoảng 700gr. Một số tài liệu Australia và Thái Lan cũng đã có những nghiên cứu về loài sâu thuộc họ Crambidae có những đặc điểm về hình thái và tập tính rất giống loài sâu xanh ăn lá Trầm hương ở Việt Nam. Năm 2001, Đại học Rutgers, New Brunswick, bang New Jersey, Mỹ đã nghiên cứu đề tài “Trầm Hương chữa ung thư”.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 1. Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống Trầm hƣơng trong nƣớc Hoàng Hành Lộc và Nguyễn Đức Tố Lưu thuộc công ty giống Lâm nghiệp Trung ương đã nghiên cứu đề tài “ Bước đầu nghiên cứu và chọn nhân giống loài Trầm hương Aquilaria crassna Pierre” bằng phương pháp giâm hom áp dụng cho cây trong giai đoạn 3 tháng tuổi, 1 và 2 năm tuổi tại xí nghiệp giống Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ và xí nghiệp giống vùng Đông Bắc. Kết quả cho thấy tỷ lệ hom ra rễ đạt trung bình 70%. Tuy nhiên, kết quả này chưa được công bố tỉ mỷ.
Nguyễn Thoan, công ty TNHH Lâm Viên nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu công nghệ tạo Trầm và phát triển cây dó Trầm hương ở vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam”. Đề tài đề cập tới kĩ thuật tạo Trầm nhân tạo và kỹ thuaatn nhân giống Trầm hương. Ba phương pháp nhân giống được nghiên cứu thí nghiệm đó là nhân giống bằng hạt, bằng hom, bằng ghép. Trong đó, phương pháp nhân giống bằng hạt, xử lý hạt bằng thuốc tím, gieo và chăm sóc dễ thực hiện và đạt tỉ lệ sống cao.
Trần Văn Minh nghiên cứu nhân giống Trầm hương bằng phương pháp nuôi cấy mô và tế bào cho các xuất xứ tại đảo Phú Quốc. Theo tác giả các 4 mẫu nuôi cấy là các chồi đỉnh của các cành có đường kính 20 – 40cm đều cho hệ số nhân trồi và khả năng tạo rễ bất định tốt hơn. Nguyễn Thị Hiền (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, Viện khoa học Lâm nghiệp) và Vũ Văn Vụ (Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội) năm 2005 nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển của chồi in vitro cây Dó Trầm - Aquilaria crassna Pierre trong môi trường nuôi cấy”. Kết quả cho thấy cây Dó Trầm tái sinh chồi trong môi trường ½ MS giữ nguyên hàm lượng Saccharose (30mg/l) và Agar (7g/l).
Cây chồi in vitro phát triển tốt hơn trên môi trường WPM + 0,1 mg/l BAP (không dùng nước dừa). Tổ chức Rừng Mưa Nhiệt Đới (The rainforest project –TRP ) – đây là một tổ chức phi chính phủ của Hà Lan, được sự tài trợ của liên minh Châu Âu – kết hợp với trường Đại Học Quốc Gia TP HCM đã tiến hành nghiên cứu các phương pháp cấy tạo trầm khác nhau trên cây dó bầu tại hai địa phương là An Giang và Kon Tum từ năm 1992 đến nay. Công trình nghiên cứu này mang lại nhiều kết quả rất khả quan, trong đó cho thấy sự hình thành trầm có thể xảy ra trên những cây dó bầu 4-5 năm tuổi sau khi xử lý chất xúc tác từ 6 đến 17 tháng. Từ năm 1991 – 1995, Phân viên nghiên cứu thực nghiệm Khoa học kỹ thuật Lâm đặc sản nay là Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu thăm dò biện pháp kỹ thuật gây tạo Trầm hương loài Dó Trầm.
Từ năm 1996, theo yêu cầu của hội đồng khoa học Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản lại tiếp tục nghiên cứu thực hiện đề tài “ Tiếp tục nghiên cứu kĩ thuật gây tạo Trầm trên cây Trầm hương Aquilaria crassna Pierre” bước đầu đã có thành công với cây Trầm 6 tuổi. 5 Nhà khoa học Nguyễn Hồng Lam (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản) đã nghiên cứu chế phẩm sinh học Lt và chế phẩm này rất có triển vọng trong việc ứng dụng vào thực tế. Một số nghiên cứu về quá trình hình thành Trầm và kỹ thuật tạo Trầm.