Chương 1. Tổng quan về đề tài Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và Kiến nghị 123doc 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, chứng minh điểm khác biệt về văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR, chứng minh cụ thể so sánh giữa Việt Nam và Indonesia. Từ cơ sở lý thuyết, đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.1 Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Cơ sở lý thuyết Nghiên cứu của Porter (2006) đã chỉ ra rằng các công ty có bốn động cơ để thực hiện các hoạt động CSR, đó là: đáp ứng các yêu cầu về đạo đức, xây dựng và duy trì sự phát triển bền vững, tuân thủ các quy định của chính phủ hay pháp luật và tăng danh tiếng của công ty hướng đến người tiêu dùng, nhà đầu tư và người lao động.
Hơn nữa, theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc còn cung cấp thêm bảy phương diện của CSR, đó là: tuân thủ pháp luật, nhân quyền, quan hệ lao động, môi trường, hoạt động kinh doanh, quan hệ với người tiêu dùng và phát triển cộng đồng. Những nghiên cứu trước đây cho rằng CSR có ảnh hưởng tích cực đến tính bền vững trong kinh doanh. Chi và cộng sự (2010) cho rằng có tồn tại ảnh hưởng tích cực giữa các hoạt động CSR và danh tiếng của công ty mà từ đó có thể cải thiện hình ảnh của công ty. Một cách gián tiếp, CSR cũng ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của khách hàng và giá trị thị trường.
Mối quan hệ tích cực giữa các hoạt động CSR và việc tuân thủ về khai báo tài chính cũng được khám phá trong nghiên cứu của Stanaaland, Lwin và Murphy (2011). Hơn hết, Stanaaland, Lwin và Murphy (2011) đã kết luận rằng có mối quan hệ tồn tại giữa nhận thức của người tiêu dùng hướng đến các hoạt động CSR thành công của một công ty và sự phát triển bền vững của công ty đó. Kết quả của nghiên cứu này cũng đề cập đến những thông tin tài chính trong quá khứ cũng như các cam kết có tính nhân đạo có thể ảnh hưởng đến những mong đợi và đánh giá đối với các nổ lực về CSR trong hiện tại của công ty. Những công ty mà có thực hiện về tài chính và cam kết nhân đạo tốt hơn có thể thu về doanh thu tốt hơn từ những hoạt động CSR của họ.
Hơn nữa, 123doc 7 những kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công ty có thể tăng doanh thu từ các hoạt động CSR thông qua việc có tiếng tăm, sự tin cậy và lòng trung thành của người tiêu dùng tốt hơn, trong khi đó việc có tiếng tăm và sự tin cậy của người tiêu dùng cũng có thể làm giảm đi cảm nhận về rủi ro khi mua sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Tổng hợp lại, những tác động này sẽ duy trì việc kinh doanh bền vững của công ty trong dài hạn theo hướng phát triển bền vững.2 Các nghiên cứu thực hiện trước đây (1)Nghiên cứu về cảm nhận của người tiêu dùng về những tiền đề và kết quả của việc thực hiện CSR” của Stanaaland, Lwin và Murphy (2011) Nghiên cứu khám phá đã xác định những hoạt động CSR từ cảm nhận của người tiêu dùng, dựa trên những tiền đề là những yếu tố ảnh hưởng và kết quả là những đánh giá cảm nhận của người tiêu dùng về các hoạt động CSR. Cảm nhận về Cảm nhận về Danh tiếng công tình hình tài ty chính Cảm nhận rủi ro Cảm nhận về thực hiện CSR Niềm tin của người tiêu dùng Cảm nhận chất lượng của Lòng trung thành những cam kết của người tiêu dùng Tiền đề Kết quả Hình 2. Mô hình cảm nhận của người tiêu dùng về những tiền đề và kết quả của việc thực hiện CSR Nguồn: Stanaaland, Lwin và Murphy (2011) 123doc 8 Các dữ liệu cụ thể về tình hình tài chính, các cam kết có giá trị của công ty đã ảnh hưởng đến việc cảm nhận CSR của người tiêu dùng, từ đó tác động lại đến cảm nhận về danh tiếng, niềm tin và lòng trung thành của họ.
Nghiên cứu cũng tìm thấy Lòng tin và lòng trung thành càng cao thì sẽ cảm nhận rủi ro khi mua sản phẩm của người tiêu dùng sẽ càng giảm. (2) Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mong đợi và đánh giá của người tiêu dùng, cụ thể cho công ty đa quốc gia tại Indonesia.của Imam Salehudin (2012) Nghiên cứu này đã sử dụng lại mô hình nghiên cứu của Stanaaland, Lwin và Murphy (2011) nhưng các thang đo để đo các yếu tố trong mô hình được điều chỉnh lại sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Indonesia. Kết quả của mô hình đã chỉ ra rằng đánh giá của người tiêu dùng đối với tình hình tài chính và cam kết trách nhiệm đạo đức của công ty đa quốc gia có ảnh hưởng cùng chiều đến những mong đợi và đánh giá của họ về việc thực hiện CSR của công ty và tác động trực tiếp đến danh tiếng của công ty và từ đó tác động gián tiếp đến niềm tin và lòng trung thành của người tiêu dùng của công ty. Tuy nhiên, những đánh giá về CSR lại không có tác động trực tiếp đến niềm tin và lòng trung thành của người tiêu dùng.
Danh tiếng và niềm tin của người tiêu dùng càng cao thì cảm nhận rủi ro về mua hàng của người tiêu dùng càng giảm. Nhận xét chung về các nghiên cứu trước đây: Từ các lý thuyết mô hình đã được nghiên cứu ở trên. Tác giả đề xuất sử dụng lại mô hình nghiên cứu của Stanaaland, Lwin và Murphy (2011) có điều chỉnh theo mô hình nghiên cứu cụ thể cho một MNC tại Indonesia của Imam Salehudin (2012). Tuy nhiên, những đặc thù về điều kiện kinh tế xã hội khác nhau giữa các quốc gia hay cụ thể là giữa Indonesia và Việt Nam sẽ có những ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Do đó, cần thiết phải xem xét có hay không sự khác nhau về văn hóa giữa các quốc gia ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR của các công ty.3 Sự khác nhau về văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến việc thực hiện CSR của các công ty Văn hóa bao gồm “các chuẩn mực, giá trị và niềm tin được chia sẻ bởi một nhóm ảnh hưởng gồm các thành viên của một xã hội có hành vi và hành động theo cách và cấu trúc có thể dự đoán được trong nhận thức của họ về thế giới”. Văn hóa quốc gia là một nhân tố quan trọng về sự khác nhau giữa cách thức kinh doanh và mối quan hệ quản lý giữa người mua - người bán ở các quốc gia khác nhau” (Sanyal và Guvenli, 2009). Yu-shu Peng, Altan-Uya Dashdeley và Hsiang Lin Chih (2012) đã có nghiên cứu về các chiều hướng văn hóa ở các quốc gia khác nhau ảnh hưởng đến việc thực thi CSR của các công ty. Trong các lý thuyết được xây dựng về kinh doanh quốc tế, văn hóa quốc gia được xác định như yếu tố cơ bản xác định sự khác nhau không chỉ giữa cá nhân với nhau mà còn ở cấp độ tổ chức từ hai nền văn hóa khác nhau.
Nghiên cứu này đã khảo sát các công ty từ 25 quốc gia khác nhau được lấy dữ liệu từ sàn chứng khoán Down Jones Sustainability Index và S&P Global Index năm 2010 cùng với dữ liệu về điểm số văn hóa ở từng quốc gia và phân cấp quốc gia từ trang CIA World Factbook. Kết quả là văn hóa có ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua các yếu tố phi chính thức như chủ nghĩa cá nhân, tính né tránh, khoảng cách quyền lực và nam tính (Yu-shu Peng và cộng sự, 2012). Gần đây, trong đề tài nghiên cứu về “khám phá sự ảnh hưởng của ngữ cảnh văn hóa quốc gia đối với việc thực thi CSR” (Patsy Perry, 2012) cũng đã chỉ ra rằng văn hóa địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thực thi CSR ở cấp độ công ty. Cụ thể là nghiên cứu được thực hiện tại Sri Lanka, nơi mà triết lý Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc về đạo đức và do đó tạo điều kiện cho các công ty xúc tiến việc thực thi CSR.
Sự hiện diện của chính phủ ban hành các quy định luật pháp chặt chẽ bằng việc tăng thêm trách nhiệm cho các công ty đã làm giảm đi khả năng vi phạm về CSR của 123doc 10 họ. Hơn nữa, mức độ phát triển kinh tế xã hội cũng sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi CSR, do khả năng quản lý sẽ tăng nếu trình độ giáo dục cao hơn (Patsy Perry, 2012). Theo đó, niềm tin về tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng có thể động viên các hành động bác ái và CSR (Stanaaland, Lwin và Murphy, 2011). Vì vậy, những cộng đồng mà càng có trách nhiệm với người khác thì sẽ là một nhân tố mạnh mẽ trong việc thực thi CSR trong quá trình kinh doanh của họ hơn là một cộng đồng có ít trách nhiệm hơn đối với người khác.
Tương tự, nghiên cứu thực tiễn về CSR ở các công ty vừa và nhỏ ở Nam Á đã tìm thấy một số bằng chứng là giá trị của đạo Hồi về trách nhiệm đối với cộng đồng là nhân tố đại diện chính cho việc thực hiện CSR. Bên cạnh đó, những nguyên lý của đạo Phật cũng được tán thành như một cách tiếp cận thích hợp để đạt được những mục tiêu phát triển bền vững (Yu-shu Peng và cộng sự, 2012). Mức độ phát triển kinh tế xã hội thông qua trình độ giáo dục và khả năng quản lý (Patsy Perry, 2012). Việc phát triển kinh tế xã hội có thể được xác định thông qua chỉ số phát triển loài người HDI của UNDP, sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể hơn về sự phát triển của một quốc gia hơn là chỉ số đơn độc GDP (UNDP, 2010).
Sự phát triển loài người cung cấp sự đo lường về tiêu chuẩn sống của một xã hội không chỉ dựa trên mức độ thu nhập trung bình mà còn dựa trên khả năng của con người sống cuộc sống có giá trị: những tiện nghi về bản chất là không có giá trị nhưng lại được xem như là một phương tiện để nâng cao khả năng về sức khỏe, kiến thức, được tôn trọng và khả năng tham gia vào xã hội. Vai trò của một quốc gia mạnh mẽ trong việc cung cấp một môi trường quyền lực hợp pháp cho CSR được công nhận.