Chương 1, tác giả cũng tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về mối quan hệ giữa xuất xứ nhà đầu tư và hoạt động FDI, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp để tiến hành nghiên cứu tại Việt Nam.2 Các lý thuyết về FDI OECD định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài – (Foreign) Direct Investment (FDI) – là một hình thức đầu tư qua biên giới được thực hiện bởi đối tượng cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục tiêu thiết lập lợi ích lâu dài tại một doanh nghiệp (doanh nghiệp FDI) là đối tượng cư trú tại một nền kinh tế khác [108]. Tương tự, IMF định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư qua biên giới theo đó một đối tượng cư trú của một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định đến việc quản trị điều hành của một doanh nghiệp là đối tượng cư trú tại một nền kinh tế khác [79]. Cũng như nhiều hiện tượng kinh tế khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện cùng với quá trình mở cửa kinh tế. Đã có nhiều lý thuyết được phát biểu với mục tiêu giải thích cho đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tuy nhiên, không một lý thuyết nào tự nó có thể giải thích đầy đủ hoạt động đầu tư quốc tế [104]. Lý thuyết dựa trên điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo phát biểu rằng khi có sự di chuyển tự do của vốn từ quốc gia đầu tư đến quốc gia tiếp nhận, năng suất biên của vốn có xu hướng cân bằng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, theo Kindleberger, FDI không thể tồn tại trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Trên thực tế, nhất định phải tồn tại một số trạng thái khiếm khuyết thị trường thì người ta mới ý thức về đầu tư trực tiếp [86].
Hymer là người đầu tiên chỉ ra điều 13 này vào năm 1960 với lý thuyết dựa trên cơ sở thị trường không hoàn hảo. Từ đây, các lý thuyết về FDI đều dựa trên cơ sở thị trường không hoàn hảo. Một số lý thuyết nổi bật được trình bày dưới đây.1 Lý thuyết tổ chức công nghiệp (Industrial Organization) Lý thuyết này được phát biểu bởi Hymer với quan điểm cốt lõi cho rằng các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa có lợi thế hơn về văn hóa, ngôn ngữ, hệ thống pháp luật và thị hiếu người tiêu dùng, cũng như rủi ro về tỷ giá. Những bất lợi này phải được cân bằng bởi sức mạnh thị trường thể hiện dưới một số dạng thức nào đó để đảm bảo việc đầu tư quốc tế mang lại lợi nhuận.
Nguồn gốc của sức mạnh thị trường được thể hiện ở công nghệ cao hơn được bảo hộ bởi bằng sáng chế, thương hiệu, kỹ năng quản trị và marketing, tính kinh tế theo quy mô và nguồn cung cấp tài chính với chi phí thấp [78].2 FDI dựa trên cơ sở độc quyền Kindleberger đã mở rộng nghiên cứu của Hymer và chỉ ra rằng với cơ hội kiếm lợi nhuận độc quyền càng cao thì các doanh nghiệp càng được khích lệ hơn để thực hiện đầu tư trực tiếp [86].3 Lý thuyết nội bộ hóa (Internalization theory) Buckley và Casson đưa ra một cách lý giải khác về FDI bằng cách nhấn mạnh vào công nghệ và sản phẩm trung gian [48]. Lý thuyết của hai ông được biết đến với tên gọi lý thuyết nội bộ hóa với ba giả định như sau: i. Các doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận trong một thị trường không hoàn hảo. Khi các thị trường sản phẩm trung gian không hoàn hảo, có động cơ để tránh các thị trường này bằng cách hình thành thị trường nội bộ.
Nội bộ hóa các thị trường trên thế giới sẽ dẫn đến hình thành MNC.4 Lý thuyết độc quyền nhóm (Oligopolistic theory) Lý thuyết này được phát biểu bởi Knickerbocker với nội dung cốt lõi cho rằng các doanh nghiệp có thể đầu tư vào một quốc gia để phù hợp với động thái của đối thủ. Nói cách khác, các doanh nghiệp thường thể hiện hành vi bắt chước, tức là họ làm 14 theo hành vi nội bộ hóa của đối thủ để không mất đi lợi thế chiến lược của mình [87].5 Lý thuyết Chiết trung (Eclectic Paradigm) Vào những năm 1970, Dunning đã hợp nhất lý thuyết độc quyền và lý thuyết nội bộ hóa, đồng thời bổ sung thêm khía cạnh thứ ba là lý thuyết địa điểm để giải thích tại sao một doanh nghiệp thành lập cơ sở ở nước ngoài. Nội dung cốt lõi của lý thuyết Chiết trung cho rằng một doanh nghiệp sẽ tiến hành FDI nếu cả ba điều kiện sau được thỏa mãn: Doanh nghiệp đó có lợi thế chủ sở hữu (O – Ownership); Nội bộ hóa các lợi thế này sẽ có lợi hơn là chuyển giao cho các doanh nghiệp nước ngoài thông qua thị trường (I – Internalization); Có lợi thế về địa điểm tại nước ngoài (L – Location) [60]. Lợi thế chủ sở hữu (O) là nhân tố phản ánh các tài sản vô hình do doanh nghiệp nắm giữ độc quyền (hoặc ít nhất, trong 1 giai đoạn nhất định) và có thể được chuyển giao trong phạm vi các công ty xuyên quốc gia với chi phí thấp, từ đó tạo ra thu nhập cao hơn hoặc chi phí thấp hơn.
Để cạnh tranh thành công tại thị trường nước ngoài, doanh nghiệp phải có các lợi thế nhất định để bù đắp các chi phí điều hành tại nước ngoài, FDI chỉ có thể xuất hiện khi các lợi ích từ việc khai thác các lợi thế này từ nước ngoài lớn hơn các chi phí cơ hội của quyết định đó. Các lợi thế chủ sở hữu có thể ở dạng công nghệ ưu thế, bằng sáng chế, kỹ năng marketing vượt trội, tính kinh tế theo quy mô, kỹ năng quản trị tốt hơn, và các năng lực đặc trưng doanh nghiệp khác. Các tác giả đã xác định ba hình thức tồn tại của lợi thế chủ sở hữu như sau: i. Các lợi thế liên quan đến việc sở hữu và khai thác sức mạnh độc quyền.
Các lợi thế này được cho rằng sẽ dẫn đến hoặc tạo ra rào cản gia nhập thị trường sản phẩm cuối cùng đối với các doanh nghiệp không sở hữu chúng. Các lợi thế liên quan đến việc sở hữu những nguồn lực và năng lực khan hiếm, duy nhất và lâu dài phát sinh từ hiệu quả kỹ thuật vượt trội của một số doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Những lợi thế này sẽ dẫn đến hoặc tạo ra các rào cản gia nhập thị trường nhân tố sản xuất hoặc thị trường sản phẩm trung gian. Các lợi thế liên quan đến năng lực của các nhà quản trị trong việc xác định, đánh giá và cải thiện các nguồn lực và năng lực trên toàn cầu, và trong việc phối hợp các năng lực và nguồn lực này với năng lực và nguồn lực hiện có để mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp một cách tốt nhất.
Lợi thế địa điểm (L) mang tính đặc thù của quốc gia tiếp nhận đầu tư, có thể chia thành ba nhóm như sau: i. Các lợi ích kinh tế bao gồm các nhân tố sản xuất về chất lượng và số lượng, chi phí vận tải, thông tin liên lạc, quy mô thị trường. Các lợi thế chính trị: Các chính sách chung và đặc thù của chính phủ tác động đến luồng đầu tư FDI. Các lợi thế xã hội: Bao gồm khoảng cách giữa quốc gia xuất xứ và quốc gia tiếp nhận, khác biệt văn hóa, thái độ đối với người nước ngoài.
Về sau, các nhà nghiên cứu cũng bổ sung thêm một số nhân tố như tỷ giá hối đoái, rủi ro chính trị, các quy định và chính sách của các thực thể siêu quốc gia. Lợi thế nội bộ hóa (I): Lý thuyết nội bộ hóa phát biểu rằng khi mà các chi phí giao dịch và chi phí cộng tác trong việc sử dụng thị trường độc lập để trao đổi hàng hóa, thông tin, công nghệ, kỹ năng marketing. vượt quá các chi phí phát sinh từ quản trị nội bộ, thì các doanh nghiệp có xu hướng tiến hành FDI hơn là nhượng quyền hoặc các thỏa thuận thị trường khác với nhà sản xuất nước ngoài. Nhìn chung, các chi phí giao dịch phát sinh từ thị trường bên ngoài có tương quan cùng chiều với các khiếm khuyết của thị trường.
Một số dạng khiếm khuyết thị trường như: các vấn đề gắn liền với duy lý hạn chế (bounded rationality), các sản phẩm công và được cung cấp chung và tài sản công. từ đó nảy sinh chủ nghĩa cơ hội, thông tin bất đối xứng, sự không chắc chắn, tính kinh tế theo quy mô, và tác động ngoại vi của một loại đến các dạng khác. Đặc trưng cơ bản của lý thuyết chiết trung là cả ba loại điều kiện phải được thỏa mãn trước khi FDI hình thành. Dunning khẳng định rằng “Bộ ba các biến quyết định đến FDI và hoạt động của các MNC của lý thuyết OLI có thể được ví như 16 chiếc ghế ba chân; mỗi chân hỗ trợ cho các chân còn lại, và chiếc ghế chỉ có thể hoạt động được nếu ba chân vẫn còn cân bằng” [58].
Về sau, lý thuyết Chiết trung phát biểu rằng các bộ tham số OLI chính xác mà từng doanh nghiệp đối mặt và phản ứng của doanh nghiệp đối với bộ tham số đó mang nặng tính bối cảnh. Đặc biệt, nó sẽ phản ánh các đặc điểm kinh tế và chính trị của quốc gia hay khu vực của doanh nghiệp đầu tư, và của quốc gia hay khu vực mà họ đang dự định đầu tư; lĩnh vực và bản chất của hoạt động giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tham gia; các đặc điểm của từng doanh nghiệp đầu tư, bao gồm mục tiêu của doanh nghiệp và chiến lược để đạt được các mục tiêu đó, và lý do tồn tại của FDI [63]. Tuy vậy, lý thuyết này cũng gặp phải một số ý kiến phê bình, trong số đó, nhiều ý kiến cho rằng lý thuyết Chiết trung bao hàm quá nhiều biến giải thích đến nỗi giá trị dự đoán của lý thuyết này gần như bằng 0. Về phương diện này, Dunning cũng thừa nhận rằng, không một lý thuyết nào tự bản thân nó có thể bao quát tất cả các hình thức hoạt động giá trị gia tăng có vốn nước ngoài bởi vì động cơ và kỳ vọng của các hình thức sản xuất này khác biệt rất lớn.
Các nhân tố giải thích cho FDI thay thế nhập khẩu tỏ ra khác biệt với các nhân tố giải thích cho FDI định hướng tài nguyên (resource–oriented); và cả hai đều tỏ ra khác biệt với các nhân tố giải thích cho FDI đầu tư tìm kiếm tài sản chiến lược [64].