đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này giới thiệu khái niệm tổng quan về công nghệ tự phục vụ, tổng hợp khung lý thuyết liên quan và đưa ra tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây đã thực hiện. Đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu dựa trên khái niệm, học thuyết và các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này xây dựng quy trình thực hiện nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Đưa ra phương pháp chọn mẫu, thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi và mã hóa thang đo để phục vụ cho việc xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày các nội dung bao gồm: đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng 8 định CFA, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để phân tích mối quan hệ đa chiều giữa nhiều biến trong mô hình, kiểm tra mối quan hệ tồn tại giữa các biến. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này sẽ trình bày những hàm ý quản trị nhằm thu hút sự hài lòng của khách hàng, nâng cao ý định hành vi và ý định truyền miệng tích cực của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Đông Sài Gòn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan về công nghệ tự phục vụ Theo Meuter và cộng sự (2000), Công nghệ tự phục vụ đề cập đến các giao diện công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ tới khách hàng một cách độc lập với sự tham gia của nhân viên dịch vụ trực tiếp. Công nghệ tự phục vụ trong lĩnh vực ngân hàng là các dịch vụ do khách hàng tự thực hiện bằng cách sử dụng các loại công nghệ tiên tiến khác nhau, chẳng hạn như máy giao dịch tự động, dịch vụ ngân hàng trực tuyến và các dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Amanda và cộng sự, 2007). Công nghệ tự phục vụ trao quyền cho người dùng thực hiện một số giao dịch bất kỳ lúc nào mà không cần sự tham gia trực tiếp của nhân viên. Bằng cách ứng dụng công nghệ tự phục vụ, mục đích cuối cùng của ngân hàng là cung cấp giá trị nâng cao cho khách hàng vào những thời điểm thuận tiện và với chi phí rẻ hơn để làm hài lòng và giữ chân khách hàng (Makarem và cộng sự, 2009).
Được thúc đẩy bằng cách tăng hiệu quả, tính linh hoạt, năng suất và cải thiện hiệu suất của công ty, các tổ chức dịch vụ, bao gồm cả các ngân hàng, được thúc đẩy để sẵn sàng áp dụng các loại công nghệ tự phục vụ khác nhau và do đó, cần phải hiểu đánh giá của khách hàng về đa kênh dịch vụ nhằm nâng cao vị thế tổ chức, đặc biệt là tại các ngân hàng và sự hài lòng của khách hàng trong môi trường cạnh tranh năng động. Các loại công nghệ tự phục vụ Theo Langeardet và cộng sự (1981) và Kaushik và Rahman (2015), công nghệ tự phục vụ được phân thành ba loại chính dựa trên mục đích của chúng, đó là dịch vụ khách hàng, giao dịch và sự tự trợ giúp của khách hàng. Các công nghệ tự phục vụ khác nhau cho phép các nhà cung cấp dịch vụ thiết kế và phát triển các máy thân thiện và tiên tiến hơn với nhiều chức năng. Các máy giao dịch tự động là công nghệ tự phục vụ được chấp nhận rộng rãi nhất, cung cấp nhiều dịch vụ cho người tiêu dùng theo những cách mới và tối ưu (Wentzel 10 và cộng sự, 2013).
Mặc dù các máy giao dịch tự động đã xuất hiện được một thời gian, nhưng chúng ngày càng được cải tiến và có nhiều tổ chức tài chính áp dụng chúng. Ban đầu, chúng chỉ là một máy rút tiền tự động, nhưng chúng ngày càng có khả năng thực hiện nhiều dịch vụ bổ sung. Các dịch vụ bổ sung này vượt ra ngoài khả năng của ngân hàng điện tử và xử lý các hoạt động mà trước đây yêu cầu sự tương tác của con người trong giờ làm việc. Các máy giao dịch tự động này cung cấp cho khách hàng của ngân hàng khả năng kiểm tra các khoản tiền hiện tại, in sổ tiết kiệm, thanh toán hóa đơn, nộp và rút tiền mặt, và nhiều tính năng khác.
Dich vụ ngân hàng trực tuyến: Internet mang lại rất nhiều cơ hội tự phục vụ cho khách hàng của ngân hàng (Rahman, 2004). Nó cho phép khách hàng tương tác trực tiếp với các ngân hàng để tìm hiểu các thông tin hữu ích, thực hiện các truy vấn và giải quyết một loạt các vấn đề của họ như giao dịch chuyển khoản nội bộ và liên ngân hàng, thanh toán hóa đơn mua sắm và dịch vụ, gửi tiết kiệm,… thông qua các thiết bị kết nối internet như điện thoại, laptop, máy tính bàn. Theo Meuter và cộng sự (2000) và Yen (2005), có rất nhiều khách hàng chuyển sang sử dụng các dịch vụ dựa trên internet vì họ cho rằng chúng dễ sử dụng, thú vị và tiện lợi. Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại: Đây là một dịch vụ ngân hàng trực tuyến qua ứng dụng của ngân hàng trên điện thoại.
Sự tiến bộ trong giao diện của điện thoại di động và ngày càng có nhiều người sử dụng thiết bị điện thoại thông minh đã làm ngày càng gia tăng số người sử dụng dịch vụ ngân hàng qua điện thoại. Với điện thoại thông minh đã cài đặt ứng dụng của ngân hàng và có kết nối internet, khách hàng có thể thực hiện các truy vấn, giao dịch chuyển khoản nội bộ và liên ngân hàng, thanh toán hóa đơn mua sắm và dịch vụ, gửi tiết kiệm,… 2. Vai trò của công nghệ tự phục vụ Đối với Ngân hàng: Công nghệ tự phục vụ trong ngân hàng mang đến những sản phẩm dịch vụ giúp ngân hàng nâng cao được hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh, thu hút được ngày càng đông các khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, 11 làm tăng nguồn thu nhập từ rất nhiều loại sản phẩm dịch vụ khác nhau, tạo nên nền tảng tài chính, nền tảng thu nhập bền vững trong hệ thống ngân hàng. Thông qua công nghệ tự phục vụ, ngân hàng có thể dễ dàng tiếp cận các khách hàng, cung cấp cho khách hàng mọi thông tin cần thiết về ngân hàng mà không cần phải mở rộng thêm nhiều kênh phân phối, giảm bớt nhân sự tại các quầy giao dịch, từ đó tiết kiệm được chi phí.
Bên cạnh đó, những tiến bộ của công nghệ tự phục vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng Việt Nam có cơ hội đi tắt đón đầu, thu hút vốn đầu tư, tiếp cận thị trường quốc tế, tạo lợi thế cạnh tranh, bắt kịp xu thế công nghệ để xây dựng các sản phẩm dịch vụ mở rộng thị trường. Đối với khách hàng: Công nghệ tự phục vụ sẽ tạo nên đột phá quan trọng trong triển khai các dịch vụ ngân hàng mới hiện đại, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng, giúp mang đến những trải nghiệm mới mẻ, tiện lợi dành cho khách hàng, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính cá nhân hóa cao đến người dùng đúng thời điểm, đúng nhu cầu. Với công nghệ tự phục vụ, dòng tiền của khách hàng sẽ được chu chuyển nhanh nhất, an toàn, tiện lợi và bí mật với độ chính xác cao. Các khách hàng có thể thực hiện giao dịch ở bất kỳ lúc nào và bất kỳ nơi đâu, giảm thời gian phải chờ đợi tại các quầy giao dịch.
Điều này rất có ý nghĩa đối với các khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân bận rộn với công việc và cuộc sống, có rất ít thời gian để phải đến giao dịch trực tiếp tại ngân hàng. Khái niệm về sự hài lòng Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng và kèm theo đó là nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Theo Rust và Oliver (1994), Levesque và McDougall (1996), Cronin và cộng sự (2000), Lin và Hsieh (2006), sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái hoặc cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Theo Zeithaml và Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ.
Schneider và White (2004) cho rằng sự hài 12 lòng chủ yếu là sự đánh giá của khách hàng về tác động của việc cung cấp dịch vụ về mặt cảm xúc. Al-Alak (2009) và Jeong và cộng sự (2016) chỉ ra rằng sự hài lòng có liên quan đến việc khách hàng bỏ ra một khoản chi phí nhất định nhưng được đền bù một cách hiệu quả trong một quá trình mua hàng. Sự hài lòng là khi người tiêu dùng cảm thấy việc mua hàng và tiêu dùng trong quá khứ, lợi ích mong đợi từ thương hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng các mục tiêu của người tiêu dùng (Bergman và Klefsjö, 2010; Loudon và Della Bitta, 1993). Theo Andreassen (2000), Baker và Crompton (2000), Cheng và cộng sự (2013), chất lượng dịch vụ đã trở thành một chiến lược hiệu quả để đánh giá cảm nhận sự hài lòng và được coi là tiền đề quan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng.
Các mô hình lý thuyết liên quan 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Dựa trên lý thuyết về hành động hợp lý (TRA), Davis (1986) đã phát triển Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – Mô hình TAM) liên quan cụ thể hơn đến dự đoán về khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin. Mục đích của mô hình này là dự đoán khả năng chấp nhận của một công cụ và xác định các sửa đổi phải được đưa vào hệ thống để làm cho nó được người dùng chấp nhận.1: Mô hình chấp nhận công nghệ Nguồn: Legris và cộng sự (2003) 13 Mô hình này cho thấy khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin được xác định bởi hai yếu tố chính: nhận thức tính hữu ích và nhận thức dễ sử dụng. Nhận thức tính hữu ích là cấp độ mà cá nhân tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ.
Nhận thức dễ sử dụng là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực.