CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nước ngoài Caporale, Howells và Soliman (2005) đã hoàn thành bài nghiên cứu của mình về “The economic growth and stock market development”. Bài nghiên cứu cung cấp cơ sở lý thuyết để thiết lập kênh thông qua đó thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Tác giả đã xem xét giả thuyết về các mô hình tăng trưởng nội sinh rằng phát triển tài chính gây ra tăng trưởng cao hơn thông qua ảnh hưởng của tài chính đến mức đầu tư và năng suất của đầu tư.
Phần thực nghiệm của nghiên cứu này khai thác các kỹ thuật được phát triển gần đây để kiểm tra quan hệ nhân quả trong VAR. Bằng chứng thu được từ mẫu của bốn quốc gia cho thấy rằng năng suất đầu tư là kênh thông qua đó sự phát triển của thị trường chứng khoán nâng cao tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Padhan và cộng sự (2007) nghiên cứu về “Stock market development and economic growth in India”. Sự hiểu biết về mối liên hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán với hoạt động kinh tế nói riêng là điều cấp thiết ở các nền kinh tế mới nổi.
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là tìm ra mối liên hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán ở Ấn Độ. Phương pháp tiếp cận: Bài báo áp dụng các phép thử phi nhân quả Granger được phát triển bởi Toda Yamamota, Dolado và Lutkephol (thường được gọi là mô hình TYDL) cho một bài tập thực nghiệm. Kết quả đáng chú ý của bài báo là cả giá cổ phiếu (BSE Sensex) và hoạt động kinh tế (IIP) có mối quan hệ hai chiều. Mô hình TYDL gợi ý rằng có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa giá cổ phiếu và hoạt động kinh tế trong thời kỳ hậu tự do hóa, ngụ ý rằng một thị trường chứng khoán phát triển tốt có thể nâng cao hoạt động kinh tế và ngược lại.
Một bài nghiên cứu khác về “Financial development growth and stock market development: The trilateral analysis in Pakistan” do Shahbaz, Ahmed và Ali (2008) hoàn thành. Qua nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán trong trường hợp Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hằng năm từ 1971-2006. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm mô hình DF-GLS để tìm thứ tự thích hợp của các biến được sử dụng trong 4 nghiên cứu. Sau khi tìm ra thứ tự các biến, những phát hiện của các nhà nghiên cứu cho thấy rằng có một mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán cho Pakistan.
Tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán có mối quan hệ hai chiều. Tiếp theo, bài nghiên cứu của Naceur, Ghazouani, và Omran (2008) về “Stock market, bank, and economic growth: Empirial evidence from the MENA region?”. Nghiên cứu của các tác giả liên quan đến sự ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến sự phát triển của thị trường chứng khoán. Nghiên cứu của tác giả là một trong số ít các nghiên cứu tập trung vào các quốc gia MENA.
Một số vấn đề được giải quyết về tác động của tự do hóa thị trường chứng khoán đối với tăng trưởng kinh tế. Sử dụng dữ liệu hàng năm từ 11 quốc gia MENA trong giai đoạn 1979– 2005, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tự do hóa thị trường chứng khoán không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư, ngược lại tác động lên sự phát triển thị trường chứng khoán là tiêu cực trong ngắn hạn nhưng chuyển thành tích cực trong dài hạn. Tuy nhiên, khi các tác giả đưa vào một số điều kiện tiền đề nhất định để tự do hóa thị trường chứng khoán, họ thấy rằng một thị trường chứng khoán phát triển hơn trước khi tự do hóa. Sự can thiệp của chính phủ ít hơn và do không mở cửa hoàn toàn nền kinh tế đối với ngoại thương, củng cố tác động tích cực của tự do hóa đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Những kết quả này có thể có một số hàm ý chính sách quan trọng, trong đó cải cách tài chính trong nước nên đi trước các chính sách nhằm tự do hóa thị trường chứng khoán. Tóm lại, cải cách trước hết nên bắt đầu từ nền kinh tế trong nước trước khi mở cửa hoàn toàn cho nước ngoài tham gia. Năm 2009, Nowbutsing và cộng sự đã hoàn thiện bài nghiên cứu về “Stock market development and economic growth: The cause of Mauritius”. Thị trường chứng khoán là một chỉ báo về sức khỏe tài chính của nền kinh tế, giúp chỉ ra tình trạng của các nhà đầu tư trong một quốc gia.
Như vậy, phát triển thị trường chứng khoán là một yếu tố quan trọng để tăng trưởng. Sàn giao dịch chứng khoán của Mauritius còn khá mới so với nhiều nước. Bài nghiên cứu này xem xét tác động 5 của sự phát triển thị trường chứng khoán đối với tăng trưởng ở Mauritius. Một cuộc điều tra kinh tế lượng theo chuỗi thời gian được thực hiện trong giai đoạn 1989- 2006.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích cả mối quan hệ trong ngắn hạn và dài hạn bằng cách xây dựng mô hình ECM. Hai biện pháp phát triển thị trường chứng khoán là quy mô và tính thanh khoản được sử dụng. Nghiên cứu xác định quy mô là tỷ trọng vốn hóa thị trường trên GDP và tính thanh khoản là khối lượng cổ phiếu được giao dịch trên GDP. Kết quả nhận thấy rằng phát triển thị trưởng chứng khoán ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Mauritius cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Enisan và Olufisayo (2009) đã có bài nghiên cứu “Stock market development and economic growth: Evidence from seven sub - Sahara African countries”. Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế của bảy quốc gia ở châu Phi cận Sahara. Bằng cách sử dụng kiểm tra giới hạn độ trễ phân tán (ARDL) tự động hồi quy, nghiên cứu phát hiện ra rằng sự phát triển của thị trường chứng khoán gắn liền với tăng trưởng kinh tế ở Ai Cập và Nam Phi. Hơn nữa, thử nghiệm này cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến phát triển thị trường chứng khoán.
Kiểm định quan hệ nhân quả Granger dựa trên mô hình vector (VECM) cho thấy thêm rằng sự phát triển thị trường chứng khoán Granger gây ra tăng trưởng kinh tế ở Ai Cập và Nam Phi. Tuy nhiên, quan hệ nhân quả Granger cho thấy bằng chứng về mối quan hệ hai chiều giữa phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế đối với Cote D'Ivoire, Kenya, Morocco và Zimbabwe. Dựa trên những kết quả này, bài nghiên cứu cho rằng tăng trưởng kinh tế giúp thúc đẩy thị trường chứng khoán ở châu Phi và ngược lại. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, thị trường chứng khoán châu Phi cần được phát triển hơn nữa thông qua các chính sách điều tiết và kinh tế vĩ mô phù hợp.
Nghiên cứu của Vazakidis và Adamopoulos (2009) về “Stock market development and economic growth”. Bài nghiên cứu này đã điều tra mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán Pháp trong giai đoạn 1965-2007 bằng cách sử dụng mô hình vecto hiệu chỉnh (VECM). Câu 6 hỏi được đặt ra “Liệu tăng trưởng kinh tế có làm phát triển thị trường chứng khoán?” hoặc đảo ngược có tính đến tác động tiêu cực của lãi suất. Thị trường chứng khoán phát triển được ước tính bởi chỉ số thị trường chứng khoán nói chung.
Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến này bằng cách sử dụng các thử nghiệm nhân quả Granger dựa trên mô hình vector (VECM). Phân tích Johansen đã được áp dụng để kiểm tra xem các biến có được đồng tích hợp của cùng một thứ tự đưa vào để kiểm tra và thống kê theo dõi. Mô hình vector được lựa chọn để điều tra mối quan hệ dài hạn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán. Cuối cùng kiểm tra Granger được tiến hành để tìm ra hướng nhân quả giữa các biến của mô hình ước tính.
Kết quả trong ngắn hạn, kinh tế tăng trưởng trên 1% dẫn đến sự gia tăng chỉ số chứng khoán trên 0,24% ở Pháp. Trong khi việc tăng lãi suất trên 1% dẫn đến chỉ số thị trường chứng khoán giảm 0,64% tại Pháp. Hệ số ước tính có ý nghĩa thống kê âm tính xác nhận rằng không có bất kỳ vấn đề nào trong trạng thái cân bằng lâu dài giữa các biến kiểm tra. Kết quả của các xét nghiệm nhân quả Granger chỉ ra rằng sự tăng trưởng kinh tế gây ra phát triển thị trường chứng khoán ở Pháp.
Do đó có thể suy ra rằng tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, trong khi lãi suất có tác động tiêu cực đến phát triển thị trường chứng khoán ở Pháp. Năm 2010, Regmi đã nghiên cứu: “Stock market development and economic growth: Empirical evidence from Nepal”. Sử dụng cách kiểm định nhân quả Granger, bài nghiên cứu đã kiểm tra sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của thị trường chứng khoán dựa trên chuỗi thời gian từ 1988 đến 2005. Mặc dù chỉ trong một thị trường vốn nhỏ của Nepal nhưng bài nghiên cứu đã chỉ ra được bằng chứng thực nghiệm về sự tích hợp và quan hệ nhân quả trong dài hạn của các biến số kinh tế vĩ mô và các biến số của thị trường chứng khoán.
Dữ liệu được phân tích trong bài báo này gồm chuỗi thời gian kinh tế và tài chính của Nepal, bao gồm: GDP thực, GDP danh nghĩa, chỉ số thị trường chứng khoán và vốn hóa thị trường. Nguồn dữ liệu bao gồm các vấn đề khác nhau khảo sát kinh tế do chính phủ Nepal, Bộ Tài chính và bản tin kinh tế hàng quý được xuất bản bởi Ngân hàng Nepal Rastra. Bài nghiên cứu đã sử dụng một chỉ số duy nhất có trọng số bằng nhau của 3 chỉ số phát triển thị trường chứng khoán: tỷ lệ vốn 7 hóa thị trường so với GDP, doanh thu hằng năm so với GDP và doanh thu hằng năm so với vốn hóa thị trường- được gọi là Index trong các nghiên cứu, đã được sử dụng. Kết quả nghiên cứu tiết lộ rằng những biến động của thị trường chứng khoán giúp dự đoán tương lai nền kinh tế.
Những phát hiện này phù hợp với nền tảng lý thuyết hiện có như được minh họa bằng kỳ vọng giả thuyết.