MỞ ĐẦU .Lý do chọn đề tài. Mục đích nghiên cứu của đề tài. Câu hỏi nghiên cứu. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.
Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN .Tổng quan nghiên cứu. Những khái niệm cơ bản của đề tài.
Sự gắn kết. Sự gắn kết với Nhà trƣờng. Sự gắn kết trong lớp học. Kết quả học tập của sinh viên.
Mối quan hệ giữa sự các lĩnh vực gắn kết với thành tích học tập. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả học tập của sinh viên………….…28 Tiểu kết chƣơng 1………………………………………………………….PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Mẫu nghiên cứu.
Phƣơng pháp thu thập số liệu. Công cụ khảo sát. Xây dựng công cụ. Khảo sát thử nghiệm.
Độ tin cậy của công cụ. Điều chỉnh bộ công cụ. Phân tích dữ liệu. 46 Tiểu kết chƣơng 2……………………………………………………….
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Thống kê mô tả mẫu. Phân tích độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronback’s Alpha. Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis).
Tƣơng quan giữa các yếu tố của sự gắn kết của sinh viên với kết quả học tập. Phân tích hồi quy đa biến. 59 Tiểu kết chƣơng 3. 64 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
66 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Xuất phát từ việc mong muốn quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho ngƣời học có thể tìm đƣợc cách học phù hợp nhất cho mình, đồng thời trƣờng đại học cũng nhanh chóng thích nghi và cũng nhƣ đáp ứng đƣợc những nhu cầu thực tiễn của cuộc sống. Năm 1872 viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chƣơng trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống tín chỉ mềm dẻo và cấu thành bởi các môđun, trong đó mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi. Đầu thế kỷ 20, hệ thống tín chỉ đƣợc áp dụng rộng rãi hầu nhƣ trong mọi trƣờng đại học ở Hoa Kỳ.
Tiếp sau đó, nhiều nƣớc lần lƣợt áp dụng hệ thống tín chỉ cho toàn bộ hoặc một bộ phận của trƣờng đại học của mình: các nƣớc Bắc Mỹ, Nhật Bản, Phillipines, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic,. Hệ thống tín chỉ là phƣơng thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng ngƣời học, xem ngƣời học là trung tâm của quá trình đào tạo”. Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank) thì đào tạo theo hệ thống tín chỉ, không những có hiệu quả đối với các nƣớc phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nƣớc đang phát triển. Ở Việt Nam, trƣớc năm 1975 một số trƣờng đại học chịu ảnh hƣởng của Mỹ tại miền nam Việt Nam đã áp dụng học chế tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức,.Đến năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành: “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”.
Phƣơng thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ lấy ngƣời học làm trung tâm trong quá trình dạy và học đã phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo cho ngƣời học. Mang lại cho sinh viên không chỉ là kiến thức, mà còn rèn luyện sự chủ động, tự tin, tranh luận, phản biện, những kỹ năng mềm nhƣ thuyết c 2 trình hay đặt câu hỏi… trao quyền chủ động cho sinh viên tự đăng kí môn học, tự quyết định, tự hoạch định kế hoạch học tập cho riêng bản thân, sinh viên đƣợc tự quyết trong việc đăng kí môn học, có thể linh động hóa chƣơng trình đào tạo theo đúng khả năng, sở thích và thời khóa biểu riêng. Đào tạo theo học chế tín chỉ cũng mang lại cho SV nhiều cơ hội chuyển đổi đơn vị môn học cũng nhƣ học thêm văn bằng hai mà không lãng phí thời gian học lại những kiến thức đã có. Việc lƣợng hóa kiến thức môn học và quy đổi ra đơn vị tín chỉ cũng giúp cho sinh viên có cái nhìn cụ thể hơn những kiến thức mà mình đang tiếp thu.
Mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ giúp sinh viên rèn luyện tính chủ động trong học tập cũng nhƣ trong lao động nhƣng bên cạnh đó cũng đòi hỏi tinh thần tích cực trong quá trình học tập của mình. Để có một quá trình học tập hiệu quả, thì sinh viên cần có sự gắn kết với Nhà trƣờng và đặc biệt là sự gắn kết của lớp học. Sự gắn kết của sinh viên không chỉ đƣợc coi là một chỉ số về trình độ học vấn của xã hội và hệ thống giáo dục mà còn là một trong những chỉ số về chất lƣợng giáo dục đƣợc cung cấp trong một cơ sở giáo dục (Kuh, 2001). Thêm vào đó, sự gắn kết của sinh viên là rất quan trọng và có lợi cho năng lực học tập của sinh viên, thành tích, sự hài lòng,… cũng nhƣ đạt đƣợc hiệu quả học tập (Harris, 2008; Krause & Coates, 2008; Lewis, 2010; Li, Park, 2005; Wang & Eccles, 2012; Willms và cộng sự, 2009).
Khó để nói rằng một hệ thống giáo dục có ít hoặc không có sự gắn kết của sinh viên sẽ mang lại kết quả tích cực. Về mặt này, có một mối quan hệ tích cực giữa sự gắn kết trong học tập của sinh viên và kết quả học tập (Carini, Kuh & Klein, 2006; Coates, 2005; Connell và cộng sự, 1994; Furlong & Christenson, 2008; Marks, 2000; Park, 2005). Nói cách khác, sự gắn kết của sinh viên đƣợc coi là cần thiết cho việc học tập cũng nhƣ thành tích học tập (Appleton và cộng sự, 2006; Carini và cộng sự, 2006; Fredricks và cộng sự, 2004; Klem & Connell, 2004). c 3 Ở Việt Nam, nhìn chungnhận thức và kĩ năng của sinh viên trong nƣớc về đào tạo theo hệ thống tín chỉ vẫn còn nhiều hạn chế.
Một số trở ngại là sinh viên không quen làm việc độc lập, vẫn giữ tƣ duy dựa vào đội ngũ cố vấn học tập, đội ngũ cán bộ lớp để nắm bắt thông tin của Nhà trƣờng, vì vậy mà nhiều sinh viên phàn nàn là không biết trƣờng tổ chức những môn học nào, kế hoạch học tập ra sao (Trần Văn Dũng, 2010). Đào tạo theo hệ thống tín chỉ khiến cho việc tổ chức sinh hoạt lớp hay sinh hoạt chi đoàn gặp nhiều trở ngại do khó gắn kết đƣợc ngƣời học cũng nhƣ khó bố trí lịch sinh hoạt vì mỗi ngƣời học đều có một thời khoá biểu riêng. Cũng bắt đầu từ năm học 2007-2008 Trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên đã áp dụng cho các khoá đào tạo đại học chính quy của Nhà trƣờng theo Hệ thống tín chỉ. Thầy Phan Quang Thế, Phó hiệu trƣởng Nhà trƣờng đã chỉ ra những khó khăn khi Nhà trƣờng triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ rằng: tổ chức đào tạo, đăng ký học phần, đổi mới phƣơng pháp dạy và học, quản lý sinh viên - mối quan hệ giữa Nhà trƣờng – giáo viên chủ nhiệm – sinh viên còn tƣơng đối lỏng lẻo,.
Ngoài những ƣu điểm mà học chế tín chỉ mang lại nhƣ: Có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao, đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo thì theo tác giả Lâm Quang Thiệp (Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam, 2006) có hai nhƣợc điểm quan trọng của học chế tín chỉ là: cắt nhỏ kiến thức và khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên - Sinh viên có thể tự do lựa chọn môn học nên các lớp học theo môđun không ổn định (lớp học phần), khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ nhƣ các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên gặp khó khăn. Cũng chính vì nhƣợc điểm này mà có ngƣời nghĩ học c 4 chế tín chỉ khuyến khích chủ nghĩa cá nhân và không coi trọng tính cộng đồng. Tuy nhiên nhƣợc điểm này trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiêp đã đƣợc khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể qua các "lớp khóa học" và sắp xếp một buổi vào thứ 2 hàng tuần không bố trí thời khóa biểu để sinh viên có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung. để tăng sự gắn kết giữa các sinh viên.
Qua các nghiên cứu của các nhà giáo dục học tác giả nhận thấy, vấn đề sự gắn kết của sinh viên với kết quả học tập của sinh viên đã đƣợc nghiên cứu với nhiều mức độ khác nhau. Các nghiên cứu đều khẳng định có sự tƣơng quan giữa sự gắn kết của sinh viên với quá trình học tập và kết quả học tập của sinh viên, đã góp phần vào sự thành công của sinh viên ở các trƣờng đại học trên thế giới. Vì vậy tác giả muốn nghiên cứu sâu hơn về mối tƣơng quan giữa sự gắn kết của sinh viên với kết quả học tập để từ đó sẽ có những giải pháp giúp sinh viên cũng nhƣ giảng viên và Nhà trƣờng. Do đó đề tài tác giả nghiên cứu là: “Mối tƣơng quan giữa sự gắn kết của sinh viên trong quá trình học tập với kết quả học tập của sinh viên (Nghiên cứu trƣờng hợp tại trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên)”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu phân tích mối tƣơng quan giữa sự gắn kết của sinh viên trong quá trình học tập và kết quả học tập của sinh viên tại trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên. Từ kết quả nghiên cứu đƣa ra khuyến nghị nhằm nâng cao kết quả học tập của sinh viên. Câu hỏi nghiên cứu - Sự gắn kết của sinh viên với quá trình học tập và kết quả học tập có mối tƣơng quan nhƣ thế nào? c 5 4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4.
Khách thể nghiên cứu SV và GV trƣờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên. Đối tượng nghiên cứu Sự gắn kết của sinh viên trong quá trình học tập và kết quả học tập của sinh viên. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu Phƣơng pháp định lƣợng: thông qua phiếu khảo sát với kích thƣớc mẫu là 648 sinh viên, sử dụng phần mềm SPSS phân tích dữ liệu bằng phƣơng pháp thống kê mô tả và thống kê suy luận để chỉ ra mối tƣơng quan giữa sự gắn kết của sinh viên với kết quả học tập.