phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường cao đẳng, đại học Chƣơng 2: Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang. Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc Giang. Kết luận và kiến nghị 6 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1.
Trong nước Ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài và kính yêu của dân tộc Việt Nam đã rất quan tâm đến việc học tập, rèn luyện và tự học. Bác đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [29]. Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”[30]. Như vậy vấn đề học tập của học sinh đã được Bác Hồ quan tâm rất sớm và sau đó được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu về giáo dục hiện tại và tương lai.
Quá trình học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi mình, làm phong phú tri thức cho bản thân. Trong điều kiện ngày nay, thông tin là tài nguyên của sự học, trí tuệ con người trở thành tài nguyên quý giá nhất của một quốc gia, dân tộc. Mặt bằng dân trí cao, cùng với những đỉnh cao của trí tuệ là điều kiện tiên quyết để một quốc gia, dân tộc thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt mang tính toàn cầu hiện nay. Dù ở bất kỳ xã hội nào, học tập cũng luôn là hoạt động cơ bản của con người như Lê nin đã dạy “Học! Học nữa! Học mãi!”.
Vì vậy, nâng cao chất lượng học tập của học sinh là mục đích, là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà trường hiện nay. Quản lý hoạt động dạy và học như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề đang được các nhà giáo dục và quản lý giáo dục quan tâm. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học ở nhiều khía cạnh khác nhau. Sau đây là một vài ví dụ: 7 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Đối với giáo dục phổ thông, với quan điểm lấy người học làm trung tâm, tác giả Nguyễn Kỳ trong tài liệu của mình đã đưa ra: ”Mô hình dạy học tích cực”, ông cho rằng chỉ có bằng cách này mới có thể thúc đẩy học sinh tự giác học tập [25].
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã đi sâu vào nghiên cứu năng lực tự học của sinh viên trong nhiều năm, ông khẳng định chỉ có phát triển năng lực tự học của sinh viên thì mới giúp họ khám phá ra cái mới trong khoa học và trong sản xuất [ 35],[36]. Đối với lĩnh vực dạy nghề, tác giả Đặng Danh Ánh trong các công trình nghiên cứu của mình cho rằng, hoạt động học tập của học sinh học nghề luôn luôn gắn kết với quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động này có tính chất học tập- sản xuất. Để hoạt động học tập đạt hiệu quả cao cần phải áp dụng phương pháp dạy học mới - dạy học nêu vấn đề, vì qua thực nghiệm tác giả nhận thấy phương pháp học tập truyền thống tạo ra lớp học sinh thực hiện máy móc các động tác sản xuất nên năng xuất lao động thấp, còn dạy học nêu vấn đề sẽ tạo ra thế hệ học sinh có tư duy kỹ thuật sáng tạo, năng lực tự giải quyết tốt các tình huống khó khăn trong sản xuất, vì thế năng xuất lao động cao [1],[2]. Cũng trong lĩnh vực dạy nghề, nếu tác giả Nguyễn Viết Sự xây dựng các tình huống có vấn đề cho môn hóa kỹ thuật thì tác giả Nguyễn Lộc xây dựng các bài toán nêu vấn đề và các bài giảng nêu vấn đề cho môn cơ kỹ thuật, còn tình huống có vấn đề trong môn điện kỹ thuật, rađiô kỹ thuật do tác giả Đặng Danh Ánh đảm nhận.
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cảnh Hồ lại bàn về công tác quản lý trường nghề - một vấn đề rộng hơn nhiều so với hoạt động học tập của sinh viên [21]. Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực con người. Đảng và Nhà nước ta đã đưa giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tóm lại có nhiều yếu tố nâng cao chất lượng hoạt động học tập của sinh viên, nhưng việc đổi mới cách dạy và cách học có vai trò rất quan trọng.
8 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Như vậy vấn đề học tập trong quá trình dạy học đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên về vấn đề quản lí hoạt động học tập của sinh viên các trường cao đẳng, đại học và dạy nghề vẫn là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên là rất thiết thực. Đặc biệt Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Bắc giang tuy đã có một vài công trình nghiên cứu về hoạt động ngoại khóa, quản lý giáo dục đạo đức, nhưng các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên thì chưa có công trình nào.
Ngoài nước Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của sự học. Khổng Tử (551 - 479 Tr CN) – Nhà giáo dục kiệt xuất thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Ông từng dạy học trò: “Không khao khát vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không cảm thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”. Trong việc học, ông đòi hỏi học trò phải nghiên cứu, tìm tòi, phải biết kết hợp học với nghĩ, biết phát huy năng lực sáng tạo của bản thân trong quá trình học tập.
Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J. Comenxky (1592 - 1670) - Ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh 12, tr. Đến thế kỷ XVIII - XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như: J.Đ Uxinsky (1824 - 1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng định: Tự học tập giành lấy tri thức bằng con đường khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức. 9 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạng tìm phương pháp giáo dục mới trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học.
Đại diện cho tư tưởng này là J.Deway, ông cho rằng: “học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và chức năng quản lý 1. Quản lý Khoa học quản lý đã có một quá trình ra đời và phát triển, đến nay khoa học quản lý đã trở thành một ngành khoa học độc lập, có vai trò, tác dụng to lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [33, tr. - Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế…vv bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [16, tr. - Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11, tr. Aunapu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó.
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: W. Taylor (1856 - 1951) người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. 10 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www. Fayol (1841 - 1925) người Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.
Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Sơ đồ khái niệm quản lý Phương pháp QL Chủ Đối Khách thể tượng Mục tiêu thể quản quản quản lý quản lý lý lý Phương pháp QL Từ những khái niệm quản lý nêu trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra. Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lý.