CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.Những vấn đề cơ bản về lạm phát 1.Khái niệm Cũng như nhiều khái niệm kinh tế khác, lạm phát được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo căn cứ lập luận của mỗi trường phái về đặc điểm, nguyên nhân hay hậu quả của lạm phát. Chính vì vậy, trong bài viết này, người viết xin đưa ra khái niệm được sử dụng phổ biến nhất trong nhiều thập kỷ qua. Về mặt hình thức, khái niệm được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu kinh tế được đưa ra bởi các nhà kinh tế học hiện đại: “lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”. Về mặt bản chất, các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton Friedman quan niệm lạm phát là sự tăng giá tăng giá cao và kéo dài khi đưa ra một tuyên bố nổi tiếng: “lạm phát luôn luôn và mọi nơi là vấn đề thuộc về tiền tệ”.
Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi những người theo trường phái Keynes bằng việc chỉ ra rằng sự tăng giá tạm thời có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chỉ có sự tăng lên của tiền tệ mới dẫn đến sự tăng giá kéo dài với tốc độ cao. Hai định nghĩa trên bao hàm ba nội dung quan trọng: (1) lạm phát là sự tăng lên của mặt bằng giá chung chứ không phải của từng mặt hàng riêng biệt, nếu một vài mặt hàng hoá tăng giá thì chưa chắc đã là lạm phát vì đông đảo các mặt hàng khác không đổi hay giảm; (2) có rất nhiều nhân tố tác động lên mức giá bao gồm cả những trông chờ kỳ vọng vào tương lai và (3) mức giá cả chung tăng lên có tính dai dẳng, nhưng không có nghĩa bắt buộc tất cả các tháng, quý đều phải tăng lên mà ám chỉ xu hướng chung là tăng lên.Các chỉ tiêu đo lường lạm phát Vì sự thay đổi giá cả các hàng hoá và dịch vụ không đều nhau, nên việc đo lường lạm phát thông qua việc tính toán mức giá bình quân. Việc này cần phải đáp ứng ba 5 vấn đề: (1) Lựa chọn chỉ số giá đại diện, (2) thời gian tính toán chỉ số đó và (3) phương pháp tính chỉ số giá. Tuỳ thuộc vào điều kiện nguồn lực mà mỗi quốc gia có thể đo lường lạm phát thông qua các chỉ số giá CPI, chỉ số lạm phát cơ bản hay chỉ số giảm phát GDP.Chỉ số giá tiêu dùng – CPI (consumer price index) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung theo thời gian của một rổ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của các hộ gia đình theo thời gian.
Chỉ số CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện tại và giá trị gốc của rổ hàng hoá và dịch vụ đó được lựa chọn. Giá của kỳ gốc được quy định là 100% và giá của các kỳ khác được biểu hiện bằng tỷ lệ phần trăm so với kỳ gốc. Như vậy việc tính toán CPI phụ thuộc vào rổ hàng hoá tiêu dùng được lựa chọn, năm gốc được chọn và thời gian tính toán (tháng, quý hay năm). Ở Việt Nam, CPI được tính theo công thức Laspeyres.
Từ khi công bố chỉ số CPI lần đầu tiên vào năm 1998, đến nay, giá kỳ gốc đã được thay đổi bốn lần (đầu tiên là năm 1995, tiếp đó là năm 2000, năm 2005 và hiện nay giá kỳ gốc được chọn là năm 2010) và rổ hàng hoá tiêu dùng được chọn cũng thay đổi về cả số lượng lẫn tỷ trọng. Công thức tổng quát được công bố theo thông tư số 02/2012/TT-BKHĐT như sau: ∑ It→0= ∑ x 100 Trong đó: It→0 : chỉ số giá tiêu dùng Pt: giá của kỳ báo cáo Po: Giá năm gốc 2010 Wo: Quyền số cố định năm gốc 2010 6 Bảng 1. Quyền số giá tiêu dùng của Việt Nam theo năm điều tra Đơn vị: % Nhóm hàng hoá dịch vụ cấp 1 1994 2000 2005 2009-2014 Tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng 100 100 100 100 1.Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 60.Đồ uống và thốc lá 4.May mặc, mũ nón, giầy dép 6.Nhà ở và vật liệu xây dựng 2.Thiết bị và đồ dùng gia đình 4.Thuốc và dịch vụ y tế 3.Bưu chính viễn thông 2.Văn hoá, giải trí và du lịch 3.Hàng hoá và dịch vụ khác 3.34 Nguồn: Tổng cục thống kê Trên cơ sở CPI, tỷ lệ lạm phát phản ánh mức giá bình quân của kỳ này so với kỳ trước được tính toán theo công thức: Tỷ lệ lạm phát= x100 Hoặc Tỷ lệ lạm phát = (log(P1) – log(P0))x100 Cách đo lường này cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời gian, nhưng không cho thấy được sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng bởi vì rổ hàng hoá và dịch vụ được chọn trước và cố định trong một khoảng thời gian về cả mặt số lượng và tỷ trọng. Thêm vào đó, CPI rất nhạy cảm với các cú sốc của cung hay những áp lực do tăng cầu dẫn đến việc tính toán lạm phát chưa được chính xác.Chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation) Khắc phục hạn chế của CPI là rất nhạy cảm với các cú sốc của cung hoặc áp lực do tăng cầu, vào các thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX, ngân hàng trung ương của nhiều 7 nước như Mỹ, Canada, New Zealand đã nghiên cứu và tính toán lạm phát cơ bản.
Vậy lạm phát cơ bản là gì? lạm phát cơ bản là lạm phát trong dài hạn mà đã loại bỏ các dao động tạm thời (những dao động có tính chất mùa vụ, dao động do các cú sốc cung,.) và phản ánh xu hướng dài hạn. Lạm phát cơ bản được tính toán nhằm mục đích nghiên cứu khác, vì vậy nó không đối lập với CPI mà nó là một thước đo lạm phát khác bổ sung cho CPI nhằm đánh gía và hoạch định chính sách tiền tệ của NHTW. Để tính toán lạm phát cơ bản, hiện nay các nền kinh tế sử dụng một trong ba phương pháp: phương pháp loại trừ, phương pháp thống kê và phương pháp hồi quy. Trong đó, phương pháp loại trừ là phương pháp phổ biến được nhiều quốc gia lựa chọn vì dễ hiểu, dễ tính và phù hợp với thông lệ quốc tế (xem phụ lục 1).Chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator) Chỉ số giảm phát GDP còn được gọi là chỉ số điều chỉnh GDP, là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá cả chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước.
Chỉ số giảm phát GDP cho biết một đơn vị GDP danh nghĩa của kỳ hiện tại có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở. Tuy nhiên, chỉ số giảm phát GDP không phản ánh trực tiếp sự biến động của hàng nhập khẩu và chỉ tính được lạm phát của một năm sau khi có báo cáo GDP của năm đó. Chỉ số giảm phát GDP được tính theo công thức sau: Chỉ số giảm phát GDP= x 100 Trong đó: GDP danh nghĩa đo lường sản lượng theo giá năm hiện tại, GDP thực tế đo lường sản lượng năm hiện tại theo giá năm gốc được chọn. Chỉ số giảm phát GDP phản ánh sự biến động của GDP danh nghĩa do sự biến động của, do đó là cơ sở để đánh giá lạm phát.
Công thức tính lạm phát theo chỉ số giảm phát GDP: Tỷ lệ lạm phát năm t = x 100 1.Nguyên nhân gây ra lạm phát 1.Lạm phát cầu kéo Lạm phát cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng dẫn đến mức giá cả chung tăng. Lạm phát cầu kéo đặc biệt nguy hiểm khi nền kinh tế đã đạt đến hoặc vượt quá mức sản lượng tiềm năng. Tổng cầu tăng lên do: sự tăng lên của nhu cầu trong và ngoài nước 8 làm tăng nhu cầu thanh toán; thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, giảm lãi suất có tác dụng tăng các yếu tố của tổng cầu; và chính sách tài khoá mở rộng. Khi nền kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng, theo hình 1.1, khi tổng cấu AD0 tăng và dịch chuyển đến AD1, AS chưa kịp thay đổi, mức giá cả chung tăng từ P0 đến P1, nền kinh tế có lạm phát.
Lạm phát cầu kéo Khi nền kinh tế đạt sản lượng tiềm năng : (1) Theo hình 1.a, do chính sách tiền tệ mở rộng hoặc do chi tiêu chính phủ tăng, AD0 dịch chuyển đến AD1, nền kinh tế cân bằng tại C, mức giá cả tăng đến P2 và sản lượng thực tế vượt sản lượng tiềm năng. Tuy nhiên, điểm cân bằng mới này tồn tại không lâu do điều chỉnh tiền lương làm cho tổng cung SAS0 dịch trái đến SAS1, trong điều kiện tổng cầu không đổi, nền kinh tế lại cân bằng ở mức sản lượng tiềm năng.Sự điều chỉnh của tiền lương b.Vòng xoáy lạm phát (2) Hình 1.b, nếu như tổng cầu lại tiếp tục tăng, quá trình điều chỉnh tiền lương lặp lại đẩy SAS1 lên SAS2. Sự tác động của việc tăng tiền lương và tăng tổng cầu làm sản lượng về dài hạn cố định ở mức sản lượng tiềm năng Y*, còn giá cả liên tục bị đẩy lên cao. Đây là bản chất của lạm phát cầu kéo.Lạm phát chi phí đẩy 9 Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi chi phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất lao động và làm giảm mức cung ứng hàng hoá của nền kinh tế, từ đó làm mức giá cả chung tăng lên.
Chi phí sản xuất tăng lên có thể do : mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động; giá nội địa của hàng nhập khẩu tăng lên; sự tăng của thuế và các khoản nghĩa vụ đối với nhà nước; và sự tăng lên của mức lợi nhuận ròng của nhà sản xuất. Tuy nhiên đây chỉ là nguyên nhân gây ra lạm phát về mặt ngắn hạn, nếu tổng cầu không đổi, mức sản lượng quay về sản lượng tiềm năng và giá cả quay về vị trí ban đầu (Hình 1. Nếu tổng cầu tăng do chính phủ muốn khôi phục lại tỷ lệ thất nghiệp và sản lượng tiềm năng, tổng cầu tăng lên làm mức giá cả chung tăng lên. Tại mức giá cả cao hơn, nguyên nhân làm tăng chi phí xuất hiện và sự đáp lại của tổng cầu làm cho mức giá cả tiếp tục tăng lên (Hình 1.Lạm phát chi phí đẩy P LAS AS1 AS0 P2 P1 AD Y* Y b.Sự đáp lại của tổng cầu c.
Vòng tròn lạm phát chi phí-giá P AS2 P LAS LAS AS1 AS1 AS0 P3 AS0 P3 AD1 P1 AD1 P1 AD0 AD0 Y* Y Y* Y 10 1.Những vấn đề cơ bản về tăng trưởng kinh tế 1.