LỜI MỞ ĐẦU Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng mà mọi quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp, xuất hiện khi nền kinh tế phát triển mất cân đối và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, ngoài những hậu quả gây ra thì lạm phát ở những mức nhất định lại cần thiết đối với các nước. Có nhiều tranh luận xung quanh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Muốn tăng trưởng cao hơn thì phải tăng đầu tư, tăng chi ngân sách, đẩy mạnh xuất khẩu… điều này dẫn đến lạm phát gia tăng. Bên cạnh đó nếu muốn kiềm chế lạm phát, thì phải thắt chặt tài khóa và tiền tệ và hệ quả là tăng trưởng kinh tế sẽ không cao. Vào những năm đầu thập niên 1980, nền kinh tế nước ta bị khủng hoảng, rơi vào lạm phát 3 con số, chính phủ đã thành công trong việc đề ra những chính sách để kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng lên cao. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiếp theo 1999- 2003 nền kinh tế nước ta nằm trong tình trạng lạm phát thấp nhưng tốc độ tăng trưởng cũng thấp.
Đặc biệt trong thời gian gần đây hiện tượng lạm phát tái phát, gây tác động mạnh đến tổng thể nền kinh tế. Có nhiều quan điểm khác nhau đối với Việt Nam mức lạm phát nào là tối ưu cho tăng trưởng kinh tế, chấp nhận mức lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng hay phải hy sinh tốc độ tăng trưởng để giữ lạm phát ở mức thấp? Đây đang là bài toán khó, gây nhiều tranh luận. Để đưa ra được quyết định tối ưu nhất, chúng ta cần hiểu rõ được mối quan hệ, tác động qua lại giữa lạm phát và tăng trưởng. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng: Theo Mundell và Tobin (1965) có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa lạm phát và tăng trưởng; hai trường phái Keynes và trường phái 2 tiền tệ đều cho rằng trong ngắn hạn, chính sách nới lỏng tiền tệ kích thích tăng trưởng, đồng thời làm gia tăng lạm phát.
Sau này, cùng với sự phát triển của kỹ thuật kinh tế lượng thì các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ này được ước lượng ngày càng phản ánh đúng đắn hơn thực tiễn và các hệ số ước lượng có nhiều ý nghĩa kinh tế hơn. Những nghiên cứu ban đầu vào thập niên 1960 đã không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê nào. Cho tới thập niên 1970, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của lạm phát đến tăng trưởng mang tính tích cực: Thirwall and Barton (1971). Sự thay đổi quan điểm đến sau khi nhiều quốc gia trải qua gia đoạn lạm phát cao liên tục trong thập niên 1970 và 1980, các nghiên cứu khẳng định rằng lạm phát có tác động tiêu cực đến tăng trưởng: Kormendi and Meguire (1985); Tullock (1989); Fischer (1993); Bruno và Easterly (1995).
Gần đây nhất, những nghiên cứu của Sarel (1996), Ghosh and Phillips (1998), Khan and Senhadji (2000) đưa ra mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng. Tại Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều bài nghiên cứu khác nhau về lạm phát, tăng trưởng nói riêng. Tuy nhiên mảng nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động qua lại của lạm phát và tăng trưởng còn rất ít, chưa đi sâu vào phân tích cụ thể. Đặc biệt việc sử dụng phân tích định lượng, chưa cập nhập những số liệu mới nhất, số quan sát chưa đủ lớn…Hơn nữa các phân tích gần đây chưa chỉ ra được mối quan hệ hình chữ U giữa lạm phát và tăng trưởng, đồng thời chưa tìm ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam.
Với những lý do và thực tiễn như vậy, tôi đã chọn đề tài: “Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”. 3 Phạm vi nghiên cứu: Do mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là khá rộng, do đó luận văn chủ yếu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Mục đích nghiên cứu: Kết hợp phân tích định lượng và định tính, luận văn tập trung chủ yếu giải quyết những vấn đề sau: - Đánh giá thực trạng quá trình lạm phát của Việt Nam qua các thời kỳ - Tác động tích cực cũng như tiêu cực của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế - Đưa ra ngưỡng lạm phát cho Việt Nam - Một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Phương pháp luận: Luận văn sử dụng các phương pháp: - Phân tích tổng hợp, logic và lịch sử - Phương pháp thống kê - Một số mô hình kinh tế lượng Nguồn số liệu: Dựa trên hệ thống số liệu thống kê về lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1956 – 2008 của Tổng cục Thống kê, Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch – đầu tư và các nguồn khác. 4 Bố cục luận văn; Luận văn bao gồm 4 chương: Chương 1: Lý luận chung về tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Chương 2: Thực trạng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam Chương 3: Vận dụng mô hình kinh tế lượng xác định mức lạm phát tối ưu cho nền kinh tế Việt Nam Chương 4: Những giải pháp kiềm chế lạm pháp ở mức độ hợp lý và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 5 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.
Lý luận chung về lạm phát 1. Khái niệm và đo lường 1. Khái niệm về lạm phát Lạm phát được định nghĩa là một vận động đi lên trong tổng mức giá cả mà đại đa số sản phẩm đều dự phần. Thường khi giá tăng từ vài tháng trở lên có thể coi như có lạm phát xảy ra.
Trong thực tế, khi mức giá chung tăng lên không đồng nghĩa với việc tất cả mọi hàng hóa đều tăng giá, và nếu có tăng thì tỷ lệ tăng cũng không đều nhau. Sự tăng giá của bất kỳ hàng hóa đơn lẻ nào đó không gọi là lạm phát nếu giá của các hàng hóa khác giảm. Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá. Điều này có nghĩa là khi lạm phát xảy ra, với một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng ít hơn các hàng hóa và dịch vụ.
Hiện nay có rất nhiều các quan điểm khác nhau về lạm phát, nó đưa ra nhiều tranh cãi bàn về nguyên nhân, tác động đến tăng trưởng và các chính sách phù hợp. Thước đo lạm phát Lạm phát có thể được tính theo công thức sau: (1.1) Trong đó: πt : Tỷ lệ lạm phát giai đoạn t t: giai đoạn tính lạm phát Pt: mức giá giai đoạn t 6 Pt-1: mức giá giai đoạn t-1 Công thức trên có thể chuyển đổi thành: πt = ln Pt – ln Pt-1 (1.2) Có một số phương pháp để tính mức giá chung: chỉ số giá tiêu dùng (CPI); chỉ số điều chỉnh GDP; chỉ số giá hàng hóa bán lẻ (RPI); chỉ số giá sản xuất (PPI); chỉ số giá hàng hóa bán buôn (WPI). Trong đó chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số quan trọng mà các nước thường lấy để đo tỷ lệ lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng được tính theo công thức: CPIt = (1.3) Trong đó: Pit : giá hàng hóa i trong thời kỳ t P0t: giá hàng hóa i trong thời kỳ gốc Qio: hàng hóa i trong thời kỳ gốc.
Chỉ số điều chỉnh GDP được coi là chỉ số phản ánh mức giá của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước. Chỉ số này được tính theo công thức: DtGDP = (1.4) Ngoài ra người ta còn sử dụng một số chỉ số khác để đánh giá mức độ lạm phát đó là chỉ số biên độ của lạm phát.2 Quan điểm khác nhau về lạm phát: Những quan điểm khác nhau về lạm phát được đưa ra dựa trên sự nhìn nhận khác nhau về nguyên nhân và hậu quả gắn liền với những vấn đề chung của sự phát triển của các nền kinh tế trên thế giới.1 Lý thuyết của trường phái trọng tiền: Theo trường phái này “ lạm phát lúc nào và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ ”. Họ cho rằng tốc độ tăng của tiền tệ đã vượt quá tốc độ tăng trưởng của sản xuất dẫn đến tiền thừa so với hàng hóa sản xuất ra dẫn đến mức giá chung tăng, sức mua của đồng tiền bị giảm sút, người dân không còn muốn giữ tiền, họ chuyển sang mua hàng hóa để tích trữ hay mua ngoại tệ. Kết quả là hệ thống ngân hàng đã thiếu tiền càng thiếu hơn nên phải phát hành thêm tiền để chi tiêu hoặc đưa vàng cất giữ ra thị trường mong bảo tồn giá trị đồng tiền họ có.
Bên cạnh đó, để phục vụ cho mục tiêu duy trì hoạt động của nền kinh tế, giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước….các khoản chi của chính phủ tăng lên không ngừng vượt quá các khoản thu vì vậy một số quốc gia tiếp tục bơm tiền vào thị trường ( Ngân hàng trung ương phải tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại, hoặc cho ngân sách vay) khiến cung tiền vượt quá mức cầu và lạm phát càng tăng. Lạm phát tiền tệ có thể biểu diễn thông qua phương trình: L= a1*m – a2*g + U Trong đó: m: tốc độ gia tăng tiền tệ g: tốc độ tăng trưởng kinh tế Một nhà kinh tế học tiêu biểu cho trường phái trọng tiền, M.Friedman cho rằng giải pháp duy nhất cho vấn đề lạm phát tiền tệ đó là việc hạn chế tăng cung tiền. Để đạt được mục tiêu này, ông đề xuất Ngân hàng trung ương chỉ 8 nên tăng cung tiền khoảng 3% đến 5% hàng năm bằng với mức tăng trưởng thông thường của nền kinh tế Mỹ.2 Lý thuyết cơ cấu về lạm phát Các nhà kinh tế theo trường phái cơ cấu giải thích nguyên nhân của lạm phát là do cơ cấu kinh tế hình thành chứa đựng nhiều mất cân đối, bất hợp lý, thoát ly cơ cấu tự nhiên của sự phát triển nhu cầu, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá. Theo trường phái này, lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng trưởng cao.