Mối Quan Hệ Giữa Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp và Kết Quả PISA 2012 của Học Sinh Việt Nam

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu vnu mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớp và kết quả pisa 2012 của học sinh việt nam luận, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Đo lƣờng và Đánh giá trong giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2016

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các khái niệm của đề tài

1.1.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL)

1.1.2. Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL)

1.2. Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1. Kết quả học tập

1.3. Khung lý thuyết của đề tài

1.4. Cấu trúc của luận văn

2. CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA

2.1.1. Giới thiệu chung Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA

2.1.2. Những đặc điểm chính của PISA

2.1.3. Các cấp độ đánh giá năng lực của PISA

2.1.4. Tổng thể và mẫu

2.1.5. Mẫu HS Việt Nam tham gia PISA 2012

2.1.6. Mẫu nghiên cứu. Mô tả về bảng hỏi và các biến nghiên cứu

2.1.7. Cấu trúc bảng hỏi

2.1.8. Các biến số về hoạt động ngoài giờ lên lớp

2.1.9. Các biến số kết quả

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

3.1. Đặc điểm hoạt động ngoài giờ lên lớp của HS Việt Nam qua PISA 2012

3.1.1. Đặc điểm thời gian học ngoài trường các môn học của HS Việt Nam

3.1.2. Thời gian ngoài giờ học ở trường theo các hình thức học tập

3.1.3. Các hoạt động đoàn thể, ngoại khóa

3.2. Mối quan hệ của các đặc điểm hoạt động ngoài giờ và kết quả PISA của HS Việt Nam

3.2.1. Tương quan của thời gian học thêm các môn ngoài giờ học ở trường với kết quả HS

3.2.2. Tương quan của thời gian ngoài giờ học ở trường phân theo hình thức học tập với kết quả HS

3.2.3. Kiểm định sự khác biệt về thành tích PISA của học sinh theo việc tổ chức các hoạt động đoàn thể, ngoại khóa

3.3. Ảnh hưởng của các hoạt động ngoài giờ đến kết quả PISA của HS Việt Nam

3.3.1. Ảnh hưởng đến kết quả Toán học (Mô hình 1)

3.3.2. Ảnh hưởng đến kết quả Đọc hiểu (Mô hình 2)

3.3.3. Ảnh hưởng đến kết quả Khoa học (Mô hình 3)

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Quan Hệ Giữa Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp và Kết Quả PISA 2012

Mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớpkết quả PISA 2012 của học sinh Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu giáo dục hiện nay. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà các hoạt động ngoài giờ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển năng lực của học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hương (2016), việc tham gia vào các hoạt động ngoài giờ có thể tạo ra những tác động tích cực đến kết quả học tập của học sinh, đặc biệt là trong các môn học như Toán, Đọc hiểu và Khoa học.

1.1. Khái Niệm Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp

Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) được định nghĩa là những hoạt động giáo dục diễn ra ngoài thời gian học chính thức. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, HĐNGLL bao gồm các hoạt động như thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, và các hoạt động xã hội khác. Những hoạt động này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng mềm mà còn tạo cơ hội cho các em áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Kết Quả PISA 2012

Kết quả PISA 2012 là một chỉ số quan trọng để đánh giá năng lực học tập của học sinh Việt Nam trong bối cảnh quốc tế. Chương trình PISA đánh giá khả năng giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó giúp các nhà quản lý giáo dục có cái nhìn tổng quan về chất lượng giáo dục. Kết quả này không chỉ phản ánh năng lực học tập mà còn cho thấy sự phát triển toàn diện của học sinh.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp

Mặc dù hoạt động ngoài giờ lên lớp có nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc tổ chức và triển khai. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt nguồn lực và sự quan tâm từ phía phụ huynh và nhà trường. Nhiều học sinh không có cơ hội tham gia vào các hoạt động này do áp lực học tập từ các môn học chính. Điều này dẫn đến việc không phát huy hết tiềm năng của học sinh trong việc phát triển kỹ năng và năng lực cá nhân.

2.1. Thiếu Nguồn Lực và Hỗ Trợ Từ Nhà Trường

Nhiều trường học thiếu cơ sở vật chất và nguồn lực để tổ chức các hoạt động ngoài giờ một cách hiệu quả. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tham gia của học sinh và làm giảm chất lượng của các hoạt động này. Theo nghiên cứu, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn lực cho HĐNGLL là rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục.

2.2. Áp Lực Học Tập Từ Các Môn Chính

Học sinh thường phải đối mặt với áp lực lớn từ việc học các môn chính, dẫn đến việc họ không có thời gian hoặc động lực để tham gia vào các hoạt động ngoài giờ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn làm giảm sự phát triển toàn diện của học sinh. Cần có sự cân bằng giữa học tập và các hoạt động ngoài giờ để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho học sinh.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa Hoạt Động Ngoài Giờ và Kết Quả PISA

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớpkết quả PISA 2012, phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng. Dữ liệu từ chương trình PISA 2012 sẽ được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. Phương pháp này cho phép đánh giá một cách khách quan và chính xác về tác động của HĐNGLL đến kết quả học tập.

3.1. Phân Tích Dữ Liệu Từ Chương Trình PISA

Dữ liệu từ chương trình PISA 2012 sẽ được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa HĐNGLL và kết quả học tập. Các biến số liên quan đến thời gian học tập, hình thức học tập và các hoạt động ngoại khóa sẽ được xem xét để đánh giá tác động đến kết quả học tập của học sinh.

3.2. Sử Dụng Phần Mềm SPSS Để Phân Tích

Phần mềm SPSS sẽ được sử dụng để phân tích dữ liệu và đưa ra các kết quả thống kê. Phân tích hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa các biến và kết quả học tập, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho các nhà quản lý giáo dục.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Hoạt Động Ngoài Giờ

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớpkết quả PISA 2012 không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc cải thiện chất lượng giáo dục. Các nhà quản lý giáo dục có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng các chương trình HĐNGLL phù hợp, từ đó nâng cao năng lực học tập của học sinh.

4.1. Xây Dựng Chương Trình HĐNGLL Phù Hợp

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các trường học có thể xây dựng chương trình HĐNGLL phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh. Việc tổ chức các hoạt động này một cách hợp lý sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện hơn.

4.2. Tăng Cường Sự Tham Gia Của Phụ Huynh

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và phụ huynh trong việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ. Sự tham gia của phụ huynh sẽ tạo động lực cho học sinh tham gia vào các hoạt động này, từ đó nâng cao kết quả học tập.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp

Mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớpkết quả PISA 2012 của học sinh Việt Nam cho thấy tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động này trong giáo dục. Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần có những chính sách và chương trình hỗ trợ phù hợp nhằm khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động ngoài giờ. Tương lai của giáo dục Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc phát triển toàn diện năng lực của học sinh thông qua các hoạt động này.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Giáo Dục

Cần có những chính sách giáo dục hỗ trợ cho việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chính sách này nên tập trung vào việc cải thiện cơ sở vật chất và nguồn lực cho các trường học.

5.2. Tương Lai Của Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp

Hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực học sinh. Cần có sự đổi mới và sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động này để đáp ứng nhu cầu của học sinh trong bối cảnh hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu mối quan hệ giữa hoạt động ngoài giờ lên lớp và kết quả pisa 2012 của học sinh việt nam luận văn ths khoa học giáo dục 60 14 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Bối cảnh và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÊ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm của đề tài 1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đƣợc hiểu nhƣ sau: Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002) “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của HS”; Theo Đặng Vũ Hoạt (1998) “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,.

để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…); Nhƣ vậy, HĐGDNGLL là hoạt động do nhà trƣờng tổ chức và quản lí với sự tham gia của các lực lƣợng xã hội. Nó đƣợc tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trƣờng hoặc trong phạm vi cộng đồng. Hoạt động này diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này đƣợc thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc. Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu nhƣ Valentine, Cooper và DuBois (2010) thì HĐNGLL đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn, gồm tất cả các hoạt động mà học sinh tham gia ngoài giờ học ở nhà trƣờng.

Các tác giả phân thành 6 nhóm hoạt động: (i) Làm bài tập về nhà; (ii) Làm việc có thu nhập; (iii) Tham gia các hoạt động ngoại khóa; (iv) Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có cấu trúc; (v) Các hoạt động phi cấu trúc với gia đình, bạn bè, ngƣời yêu; (vi) thời gian ngủ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo cách phân loại này, các nghiên cứu đi trƣớc đã chứng minh đƣợc sự tƣơng quan của từng yếu tố đối với thành tích học tập. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm HĐNGLL với nội hàm bao gồm cả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (hoạt động ngoài giờ học ở trƣờng có sự quản lý, tổ chức của nhà trƣờng, xã hội) và các hoạt động khác của HS ngoài trƣờng học. Tuy nhiên, do sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu thứ cấp nên tác giả không thể triển khai hết tất cả các khía cạnh của HDGDNGLL và HĐNGLL nhƣ theo phân loại trên.

Chúng tôi chỉ sử dụng các nhóm biến số có sẵn trong bộ dữ liệu PISA 2012 sẽ đƣợc trình bày trong chƣơng 2. Các khái niệm liện quan đến đề tài 1. Kết quả học tập Kết quả học tập của HS thƣờng dùng các từ tiếng Anh nhƣ “Achievement; Result; Learning Outcome”. Trong đó, “Achievement” có nghĩa là kết quả, thành tựu; sự đạt đƣợc, sự hoàn thành; “Result” có nghĩa là kết quả; “Learning Outcome” là KQHT.

Các từ này thƣờng đƣợc dùng thay khi nói về KQHT là “Learning Outcome”. Theo tác giả Nguyễn Lan Phƣơng (2011), để hiểu đúng khái niệm kết quả học tập trƣớc hết cần phân biệt mục đích giáo dục và mục tiêu giáo dục. Mục đích giáo dục là “cái đích tổng thể, cuối cùng và là ý định của nhà giáo dục”, tức là trả lời câu hỏi “để làm gì”. Ví dụ, giáo dục Việt Nam là nhằm “đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục, 2005).

Còn mục tiêu giáo dục là “cái đích ở các giai đoạn riêng biệt mà ngƣời học phải đạt đƣợc trên con ngƣời tiếp cận dần đến cái đích tổng thể”, tức là trả lời cho câu hỏi “làm gì”. Kết quả học tập đƣợc coi nhƣ là thành công của ngƣời học thể hiện cụ thể ở những điều học sinh biết và làm đƣợc so với mục tiêu học tập. Kêt quả học tâp, mục đích, mục tiêu học tập có các đặc điểm tƣơng đồng. Tuy nhiên, kết quả học tập liên quan tới thành tích ngƣời học (biết những gì, hiểu nhƣ thế nào và làm đƣợc, vận dụng đến đâu).

Theo Thông tƣ quy định về Đánh giá định kỳ quốc gia KQHT của HS trong các cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành đã đƣa ra quan 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm về KQHT nhƣ sau: "Kết quả học tập" là mức độ đạt đƣợc của HS về kiến thức, kỹ năng, năng lực so với mục tiêu đƣợc quy định trong chƣơng trình giáo dục phổ thông". Đánh giá Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Nhƣ Ý, đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị. Theo Từ điển Cambridge, Đánh giá là phân xử hoặc quyết định về khối lƣợng giá trị hoặc sự quan trọng của cái gì đó cụ thể hoặc sự phán quyết, hay quyết định về việc gì đó đã đƣợc thực hiện; hoặc Đánh giá là một ý kiến hay phán xét về ai đó/ cái gì đó sau khi đã đƣợc suy xét cẩn thận. Theo tác giả Trần Bá Hoành, Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công viêc, sự vào sự phân tích những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc.

Tổng hợp các nội hàm chính từ những định nghĩa trên thì đánh giá là “Quá trình thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin để tìm ra các chỉ số về lƣợng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong sự so sánh với các mục đích, mục tiêu đã đặt ra từ trƣớc, từ đó đƣa ra các ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm giúp cải thiện, nâng cao chất lƣợng công việc”. Đánh giá kết quả học tập Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (1996), "Đánh giá KQHT là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sƣ phạm của giáo viên và nhà trƣờng, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn". Theo đó, có thể thấy, đánh giá KQHT gồm 3 giai đoạn chính: (i) Thu thập thông tin phải thực hiện một cách có hệ thống, đúng phƣơng pháp; (ii) Thông tin cần đƣợc xử lý và phân tích đúng phƣơng pháp, kỹ thuật để giải thích hợp lý, khoa học hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lƣợng giáo dục; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (iii) Các ý kiến nhận xét, đánh giá phải gắn chặt với mục tiêu giáo dục, đƣa ra các hiện trạng, nâng cao chất lƣợng giáo dục 1. Năng lực Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực: Theo quan niệm trong chƣơng trình giáo dục phổ thông của Quebec - Canada, “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.

Theo John Erpenbeck (1998) trong Nguyễn Công Khanh (2014) năng lực đƣợc xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc nhƣ là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Theo Weinert (2001) trong Nguyễn Công Khanh (2014), năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học đƣợc… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi. Theo Nguyễn Công Khanh (2014), “Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tƣợng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội.

thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trƣờng học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội”. Đánh giá năng lực Theo Leen pil (2011) trong Nguyễn Công Khanh (2014) quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá KQHT không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá KQHT theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá KQHT đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện KQHTcủa HS.

Hay nói cách khác, đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy, đánh giá năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra… nhƣng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, thái độ mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt hiệu quả. Đánh giá trên lớp học và đánh giá trên diện rộng Theo tác giả Nguyễn Lan Phƣơng (2011) nếu căn cứ vào phạm vi đối tƣợng đánh giá, có thể chia hệ thống đánh giá trong giáo dục phổ thông thành hai loại: đánh giá trên lớp học và đánh giá trên diện rộng. Đánh giá trên lớp học: Đánh giá trên lớp học là quá trình giáo viên thu thập thông tin trong từng bài học, hàng ngày, hàng tháng… phân tích và phản hổi thƣờng xuyên kết quả thu đƣợc để tìm hiểu xem HS đã học nhƣ thế nào, học đƣợc bao nhiêu, và có phản ứng nhƣ thế nào với cách giảng dạy của giáo viên.

Từ đó giáo viên điều chính hoạt động giảng dạy theo hƣớng nâng cao KQHT cho mỗi HS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ