Nghiên cứu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong điều kiện việt nam hiện nay luận án ts luật 62 38 01 01, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2006

182
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT

1.1. Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.2. Khái niệm dân chủ và pháp luật

1.3. Tại sao dân chủ cần pháp luật?

1.4. Tại sao pháp luật cần dân chủ?

1.5. Hình thức biểu hiện của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.5.1. Hiến pháp, hình thức biểu hiện trọng tâm của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.5.2. Các luật có nội dung quy định trực tiếp về quyền và cơ chế dân chủ

1.5.3. Dân chủ trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật

1.6. Nội dung mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.6.1. Dân chủ là sức sống của pháp luật

1.6.2. Pháp luật là phương tiện và đại lượng của dân chủ

1.7. Những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

1.7.1. Nền kinh tế thị trường phát triển tương thích với mối quan hệ giữa pháp luật và dân chủ

1.7.2. Kết cấu xã hội ảnh hưởng đến dân chủ và pháp luật

1.7.3. Truyền thống, văn hóa chính trị - pháp lý và nhận thức về mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật tác động đến dân chủ và pháp luật

1.7.4. Trào lưu dân chủ thế giới và pháp luật quốc tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật của quốc gia

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

2.1. Các giai đoạn phát triển của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam từ 1945 đến nay

2.1.1. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1945 - 1959

2.1.2. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1959 - 1980

2.1.3. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong giai đoạn 1980 - 1992

2.1.4. Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật từ thời kỳ đổi mới cho đến nay

2.2. Thực trạng và nguyên nhân của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam

2.2.1. Thực trạng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam

2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

3.1. Nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.1.1. Đổi mới kinh tế phải mở rộng dân chủ và hoàn thiện pháp luật

3.1.2. Nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ từ quá trình toàn cầu hóa

3.1.3. Nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ từ sự thay đổi về mặt xã hội sau thời kỳ đổi mới

3.1.4. Nhu cầu xuất phát từ nhận thức về dân chủ và pháp luật

3.1.5. Nhu cầu xuất phát từ thực trạng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.2. Nguyên tắc hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.2.1. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trước hết phải là công việc của nhân dân

3.2.2. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật phải gắn với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia

3.2.3. Thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật phải gắn với thống nhất và ổn định xã hội

3.2.4. Thực hiện toàn diện và thống nhất giữa dân chủ và pháp luật

3.2.5. Thực hiện mối quan hệ trong điều kiện cụ thể và lộ trình thích hợp

3.3. Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.3.1. Đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

3.3.2. Hoàn thiện nội dung dân chủ trong hiến pháp và pháp luật

3.3.3. Thực hiện những điều kiện cho việc hoàn thiện mối quan hệ

3.3.4. Biện pháp tổ chức thực hiện phải đồng bộ và theo lộ trình

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa dân chủpháp luật tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Dân chủ và pháp luật không chỉ là những giá trị cốt lõi của xã hội mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp nâng cao nhận thức và thực hiện các quyền con người, tự do ngôn luận, và quyền bầu cử. Mối quan hệ này không chỉ đơn thuần là lý thuyết mà còn có những ứng dụng thực tiễn trong đời sống hàng ngày.

1.1. Khái niệm dân chủ và pháp luật trong bối cảnh Việt Nam

Dân chủ và pháp luật là hai khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ. Dân chủ tại Việt Nam được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân, trong khi pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực đó. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này tạo ra một hệ thống chính trị ổn định và minh bạch.

1.2. Tại sao dân chủ cần pháp luật và ngược lại

Pháp luật là điều kiện cần thiết để bảo vệ và thực hiện quyền con người. Ngược lại, dân chủ tạo ra môi trường thuận lợi cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Sự tương tác này giúp đảm bảo tính minh bạch trong chính phủ và sự tham gia của người dân vào các quyết định quan trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

Mặc dù có sự phát triển trong mối quan hệ giữa dân chủpháp luật, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Những vấn đề như tính minh bạch trong chính phủ, quyền bầu cử, và tự do ngôn luận vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc thực hiện quyền lợi của công dân và ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội.

2.1. Những hạn chế trong thực thi pháp luật tại Việt Nam

Thực trạng cho thấy rằng nhiều quy định pháp luật chưa được thực thi nghiêm túc. Điều này dẫn đến tình trạng mất dân chủthiếu minh bạch trong các hoạt động của chính phủ. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

2.2. Tác động của nền kinh tế thị trường đến dân chủ và pháp luật

Nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức cho mối quan hệ giữa dân chủpháp luật. Sự phát triển kinh tế cần đi đôi với việc nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện dân chủ.

III. Phương pháp cải thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

Để cải thiện mối quan hệ giữa dân chủpháp luật, cần có những phương pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của mình là rất quan trọng. Đồng thời, cần có sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc giám sát và thực thi pháp luật.

3.1. Đổi mới nhận thức về dân chủ và pháp luật

Cần có các chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân về quyền bầu cử, tự do ngôn luận, và cơ chế kiểm soát quyền lực. Điều này sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về vai trò của mình trong việc thực hiện dân chủ.

3.2. Hoàn thiện nội dung pháp luật liên quan đến dân chủ

Cần xem xét và sửa đổi các quy định pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc thực hiện quyền lợi của công dân. Các luật cần phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền con người và thúc đẩy sự tham gia của người dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dân chủ và pháp luật

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa dân chủpháp luật không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp cải thiện chính sách và pháp luật, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

4.1. Kinh nghiệm quốc tế trong việc thực hiện dân chủ và pháp luật

Nhiều quốc gia đã thành công trong việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủpháp luật. Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để áp dụng vào thực tiễn.

4.2. Kết quả đạt được từ việc cải thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

Những cải cách trong mối quan hệ giữa dân chủpháp luật đã mang lại nhiều kết quả tích cực, như tăng cường sự tham gia của người dân vào các quyết định chính trị và nâng cao tính minh bạch trong chính phủ.

V. Kết luận và tương lai của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật tại Việt Nam

Mối quan hệ giữa dân chủpháp luật tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Cần có những nỗ lực liên tục để cải thiện và hoàn thiện mối quan hệ này. Tương lai của dân chủ và pháp luật sẽ phụ thuộc vào sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc giám sát và thực thi pháp luật.

5.1. Tầm quan trọng của việc duy trì mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật

Việc duy trì mối quan hệ này là rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội. Cần có sự đồng bộ giữa các chính sách và pháp luật để tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của dân chủ.

5.2. Những thách thức trong tương lai và giải pháp

Trong tương lai, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện dân chủ và pháp luật. Cần có những giải pháp cụ thể để vượt qua những thách thức này, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong điều kiện việt nam hiện nay luận án ts luật 62 38 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT 1.1 Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật Mối quan hệ nói chung được hiểu là “Sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia” [17, tr. Từ điển Oxford định nghĩa về mối quan hệ “Là cách mà người hoặc sự vật được liên kết với nhau. Là sự liên kết mang tính chất đáp ứng, đối lập hay ưu trội giữa những sự vật hiện tượng”[131, tr. Như vậy, có thể hiểu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật bao hàm vai trò và sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật.

Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật mang tính chất khách quan vì xét ở một khía cạnh nhất định, tự thân dân chủ đã cần pháp luật vì dân chủ là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nên nó phải tồn tại trong những hình thức pháp lý. Khó có thể tưởng tượng quyền lực nhà nước dân chủ lại không mang hình thức là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đối với các chế độ chuyên chế, dù quyền lực tột đỉnh nhưng vẫn phải mượn đến pháp luật thì chế độ dân chủ cũng sẽ như vậy. Ví dụ, hầu hết các triều đại Trung Quốc phong kiến độc tôn Nho giáo, một tư tưởng vốn không trọng pháp luật nhưng các triều đại này vẫn củng cố chế độ chuyên chế của mình bằng pháp luật.

Ở khía cạnh này, cũng có thể coi mối quan hệ này là mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (quyền lực dân chủ của nhà nước) và yếu tố bên ngoài (pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực đó). Ngược lại, muốn phản ánh quy luật khách quan, thể hiện ý chí nhân dân để có thể hợp với lẽ phải và được thực hiện một cách tự nguyện và hiệu quả trên thực tế, pháp luật cần được xây dựng và thực hiện một cách dân chủ. Như vậy, có thể nói, tự thân pháp luật đã cần dân chủ. Do vậy, dù muốn hay không, các thế lực cai trị không thể quyết định sự tồn tại, phát triển của dân chủ và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng vì mối quan hệ giữa chúng có tính chất khách quan, quy luật.

Với sự tiến bộ của nhân loại, quá trình dân chủ hóa và sự vai trò và của pháp luật được coi là tất yếu khách quan và diễn ra trên phạm vi toàn cầu và mọi mặt của đời sống xã hội và được nhấn mạnh nhất trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà nước vì dân chủ và pháp luật đã được chấp nhận như là một giá trị nhân loại và mang tính chất phổ biến [2, 16, 21]. Xu hướng khách quan này đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa dân chủ với pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc thứ 7 trong Tuyên bố về dân chủ của Tổ chức Nghị viện quốc tế tại Cairô năm 1997 cho rằng: “Dân chủ chỉ có thể có được trên nền tảng sự tối thượng của luật pháp và sự thực hiện quyền con người. Trong một nhà nước dân chủ, không ai ở trên luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật” [109, tr.

Ngược lại, pháp luật của xã hội văn minh, tiến bộ không thể không có nội dung và tính chất dân chủ. Như vậy, sự đan kết giữa dân chủ và pháp luật là một quá trình phát triển tất yếu từ thấp đến cao theo lịch sử phát triển của xã hội. Tuy nhiên, dân chủ và pháp luật hình thành trong xã hội loài người, được thực hiện bởi con người, cho nên mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật cũng là sự cần thiết và mang tính chất chủ quan, thể hiện ý chí, mong muốn của con người. Với tư cách là những phương thức tổ chức và quản lý xã hội, quản lý nhà nước, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng là sản phẩm nhận thức chủ quan và cũng là kết quả của hoạt động có chủ đích của con người.

Tính chủ quan thể hiện ở việc kẻ cầm quyền cũng như xã hội có nhận thức về dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng hay không và ở mức độ nào. Quan trọng hơn, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng được thực hiện với những động cơ, mong muốn như thế nào trên thực tế cũng chính là một biểu hiện quan trọng của tính chất chủ quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Như vậy, không phải mọi hệ thống pháp luật đều có tính chất dân chủ và không phải mọi chế độ dân chủ là có pháp luật hay dân chủ và pháp luật không luôn luôn tồn tại và gắn kết chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong lịch sử, có những thời kỳ pháp luật xuất hiện nhưng chưa xuất hiện dân chủ (chế độ quân chủ chuyên chế) và có thời kỳ dân chủ hiện diện nhưng pháp luật không tồn tại (dân chủ nguyên thủy).

Có những hệ thống pháp luật được thực hiện triệt để nhưng nó bảo vệ cho chế độ chuyên chế và có nền dân chủ tồn tại trong điều kiện không có một trật tự pháp luật, hỗn loạn. Nói chung, mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và pháp luật chỉ xuất hiện trong những điều kiện khách quan nhất định song song với nhận thức, mong muốn thực hiện của con người. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực hiện dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng một cách hiệu quả là hiện thực mang tính khách quan và cũng là mong muốn chủ quan của mọi xã hội. Tuy nhiên, nội dung và tính chất của sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật một phần phụ thuộc vào khái niệm dân chủ và pháp luật được hiểu như thế nào.

Bởi vì, sự khác nhau trong cách tiếp cận về dân chủ và pháp luật sẽ dẫn đến sự khác nhau về tính chất và nội dung của mối quan hệ và thực hiện mối quan hệ. Chính vì vậy, điều quan trọng trước hết là phải xác định khái niệm dân chủ và pháp luật.1 Khái niệm dân chủ và pháp luật 1.1 Khái niệm dân chủ Về mặt lịch sử, thuật ngữ Demokratos (dân chủ) xuất phát từ Hy Lạp cổ đại, là từ ghép của hai từ Demos (bình dân, nhân dân) và Kratos (quyền lực, cai trị). Dân chủ từng được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhân dân cai trị. Theo đó, khái niệm dân chủ có thể được giản lược thành những mệnh đề khác nhau như: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân…[11,15, 16, 21].

Không dân chủ hay đối lập với dân chủ là độc tài, chuyên chế mà trong đó quyền lực không thuộc về nhân dân và không chịu một sự hạn chế nào với mục đích cai trị, trấn áp nhân dân. Khái niệm dân chủ cho đến nay được hiểu rất đa dạng. Dưới góc độ giai cấp,“…chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau, thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính chất giai cấp” [68, tr 304]. Tiếp cận dưới góc độ giá trị, dân chủ được xem là giá trị tiến bộ của xã hội.

Tiếp cận thể chế, dân chủ là chế độ xã hội, chế độ nhà nước, chế độ bầu cử. Tiếp cận chức năng, dân chủ được xem là một trong những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực [103, tr. Khái niệm dân chủ có thể phức tạp hơn khi cần phải trả lời cho câu hỏi: ai là dân và làm chủ như thế nào và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về khái niệm dân chủ và từ đó dẫn đến khác nhau trong việc xác định điều kiện, cách thức để thực hiện dân chủ [153, tr. Nhìn chung, sự bất đồng về khái niệm dân chủ nhiều hơn là sự thống nhất.

Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, các lý thuyết về dân chủ hiện nay có những điểm tương đối thống nhất là: Thứ nhất, các vấn đề trung tâm của các lý 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết về dân chủ đều đặt mục đích vì con người và cho rằng nhân dân có quyền tự chủ, tự quyết định số phận của mình và chính nhân dân biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chính họ cũng. Vì lý do đó, các lý thuyết về dân chủ cho rằng sự phát triển của dân chủ là tất yếu khách quan và nó là yếu tố hợp thành nội dung của tiến bộ lịch sử. Ví dụ, các tác giả Việt Nam như Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo…hay quốc tế như Armatya Sen, Fukuyama, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung đều thống nhất về giá trị tiến bộ của dân chủ. Trên thực tế, giá trị tiến bộ của dân chủ đã được khẳng định trong những văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ Đại hội 6 đến nay [70].

Thứ hai, một trong những nội dung trọng tâm của những lý thuyết về dân chủ đề cập đến những vấn đề về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước mà quyền lực này có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân và vì dân. Vì dân chủ có nội dung trọng tâm là về quyền lực nhà nước cho nên khái niệm dân chủ cần được xem xét tập trung trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hay cách tiếp cận dân chủ ở đây là tiếp cận thể chế. Thể chế ở đây được hiểu là các cơ chế thực thi, các tổ chức và các quy tắc điều chỉnh [10, tr. Dân chủ trong luận án được xem xét theo hai khía cạnh như sau: khía cạnh thứ nhất, dân chủ trong luận án được xem là một dạng quan hệ về quyền lực.

Quan hệ này diễn ra giữa những bên có hoặc có quyền lực nhiều hơn và kẻ không có hoặc có quyền lực ít hơn và là quan hệ về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Thực chất, nó là quan hệ về một “lượng” quyền lực không đổi, kẻ này được nhiều hơn cũng có nghĩa là kẻ khác sẽ ít hơn và mong muốn nhất là quyền lực ngày càng thuộc về toàn thể nhân dân. Dân chủ có thể là sự ban tặng của giai cấp thống trị nhưng trước hết nó phải là kết quả đấu tranh của giai cấp bị trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ