MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ KINH TẾ GIA TĂNG VÀ CÁC THƢỚC ĐO TRUYỀN THỐNG VỚI NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG GIÁ TRỊ THỊ TRƢỜNG i TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tối đa hóa giá trị cổ đông là mục tiêu đã được nhiều nhà quản trị chấp nhận rộng rãi trong thời gian gần đây. Giá trị cổ đông được đo lường theo lợi nhuận họ nhận được trên vốn đầu tư ( Sharama và Kumar, 2010) có thể từ cổ tức chi trả hoặc giá trị gia tăng của vốn hoặc cả hai. Giá trị gia tăng của vốn phụ thuộc vào những biến đổi trong giá trị thị trường chứng khoán. Giá trị thị trường chứng khoán lại phụ thuộc vào số lượng các nhân tố từ những công ty cụ thể đến thị trường cụ thể.
Hệ thống quản trị dựa trên giá trị rất phổ biến trong lý thuyết học thuật trong hai thập kỷ nay. Giá trị kinh tế giá tăng ( EVA) như một sự đổi mới trong những thước đo thành quả nội bộ và bên ngoài. Stern Stewart, người đi đầu chủ trương mới này tranh luận rằng giá trị kinh tế gia tăng có thể được sử dụng thay thế thu nhập hoặc dòng tiền từ hoạt động, thu nhập, thu nhập trên mỗi cổ phần và tăng trưởng thu nhập đang làm sai lệch thước đo thành quả doanh nghiệp”. Theo xu hướng toàn cầu, vài công ty ở Việt Nam cũng đang tập trung vào việc tạo ra giá trị cổ đông.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm tra mục tiêu của những đề xuất về ưu việt của thước đo giá trị kinh tế gia tăng (EVA) về thành quả tài chính so với năm thước đo truyền thống như lợi nhuận hoạt động thuần sau thuế ( NOPAT), dòng tiền từ hoạt động ( OCF), thu nhập trên mỗi cổ phần ( EPS), tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ phần sử dụng ( ROCE), tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ phần ( ROE) ở những doanh nghiệp Việt Nam và đồng thời cung cấp những bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp sản xuất trên thị trường này. Để đạt được điều này, chúng tôi tiến hành kiểm định nội dung thông tin gia tăng tương đối của những thước đo khác nhau và đồng thời cũng kiểm tra mối quan hệ của những thước đo này với giá trị thị trường tăng thêm (MVA). ii MỤC LỤC PHẦN 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .1 Nội dung nghiên cứu .2 Câu hỏi nghiên cứu .3 Cấu trúc bai nghiên cứu. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .1 Mối quan hệ giữa giá trị kinh tế và tỉ suất sinh lợi chứng khoán .2 Sự chấp nhận EVA và giá trị công ty.3 Mối quan hệ giữa EVA và MVA.
7 PHẦN 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .1 Mô tả dữ liệu .2 Xây dựng biến .1 Giá trị thị trường gia tăng ( Market Value Added) .2 Giá trị kinh tế gia tăng ( Economic value added) .3 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ( ROE) .4 Tỷ suất sinh lợi trên vốn sử dụng ( ROCE) .5 Tỷ suất sinh lợi trên giá trị thuần (RONW) .6 Dòng tiền hoạt động (OCF) .7 Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) .8 Lợi nhuận trước lãi vay và sau thuế (NOPAT) .3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu .1 Mô hình nghiên cứu .2 Giả thuyết nghiên cứu .4 Phương pháp kiểm định .1 Phương pháp phân tích thành phần chính PCA .2 Phương pháp Pooled-OLS. 25 PHẦN 4: KẾT QUẢ HỒI QUY .1 Sự thích hợp của mẫu và kiểm định giá trị .2 Ma trận tƣơng quan và thống kê mô tả .3 Phân tích thành phần chính .4 Kết quả phân tích hồi quy. 36 PHẦN 5: KẾT LUẬN .1 Kết luận chung .2 Hạn chế của bài nghiên cứu .3 Hướng nghiên cứu tiếp theo để phát triển đề tài. 49 iv GIẢI THÍCH CÁC KÝ HIỆU MVA Gía trị thị trường tăng thêm EVA Giá trị kinh tế gia tăng OCF Dòng tiền hoạt động thuần ROE Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn cổ phần RONW Tỷ suất sinh lợi trên giá trị thuần EPS Thu nhập trên mỗi cổ phần ROCE Tỷ suất sinh lợi trên vốn sử dụng NOPAT Lợi nhuận hoạt động sau thuế CAPM Mô hình định giá tài sản vốn PCA Phương pháp phân tích thành phần chính v DANH SÁCH BẢNG Bảng 1:Bảng hệ số KMO dữ liệu unbalance.
27 Bảng 2: Bảng hệ số KMO- Dữ liệu balance. 28 Bảng 3: Bảng thống kê mô tả- dữ liệu unbalance. 29 Bảng 4: Bảng Ordinary correlations- dữ liệu unbalance. 30 Bảng 5: Bảng thống kê mô tả- dữ liệu balance.
31 Bảng 6: Bảng Ordinary correlations- dữ liệu balance. 32 Bảng 7 : Bảng Eigenvalues- dữ liệu unbalance. 33 Bảng 8: Bảng Eigenvectors. 33 Bảng 9: Bảng tổng tải trọng 3 PCs.
34 Bảng 10: Bảng Eigenvalues- dữ liệu balance. 35 Bảng 11: Bảng Eigenvectors. 36 Bảng 12: Bảng tổng tải trọng 3 PCs. 36 Bảng 13: Bảng kết quả hồi quy MVA theo EPS, NOPAT, ROCE, ROE, RONW- Dữ liệu unbalance.
39 Bảng 14: : Bảng kết quả hồi quy MVA theo EVA, EPS, NOPAT, ROCE, ROE, RONW- dữ liệu unbalance. 41 Bảng 15: Khắc phục tự tương quan dữ liệu unbalance. 43 Bảng 16: Bảng kết quả hồi quy MVA theo EPS, NOPAT, ROCE, ROE, RONW- dữ liệu balance. 44 Bảng 17: Bảng kết quả hồi quy MVA theo EVA, EPS, NOPAT, ROCE, ROE, RONW- dữ liệu balance.
46 1 PHẦN 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1 Nội dung nghiên cứu Môi trường kinh doanh của Việt Nam luôn thay đổi trong suốt những năm gần đây. Các nhà quản lý doanh nghiệp đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt, thay đổi công nghệ nhanh chóng, độ bất ổn trong thị trường tài chính thực v. làm tăng gánh nặng cho các giám đốc để gia tăng thành quả và giá trị cổ đông. Quy tắc duy nhất của những giám đốc thường là gia tăng giá trị cổ đông.
Mặc dù mục tiêu của các giám đốc hiện hành thường là tạo ra giá trị cho chủ của họ nhưng không phải họ luôn hành động để tối đa hóa giá trị cổ đông vì xung đột với những mục tiêu khác. Từ quan điểm kinh tế, giá trị được tạo ra khi nhà quản lý tạo doanh thu cao vượt xa chi phí kinh tế tạo doanh thu. Dưới quan điểm giá trị cơ bản, giá trị chỉ duy nhất được tạo ra khi doanh thu vượt quá tất cả chi phí gồm cả chi phí vốn. Giá trị này đổ dồn về cho cổ đông vì họ là những người sở hữu cuối cùng của công ty.
Cổ đông kì vọng nhà quản lý tạo giá trị càng cao hơn chi phí càng tốt bao gồm chi phí sử dụng vốn. Nếu nhà cung cấp vốn không nhận lợi nhuận phù hợp để bảo đảm mức rủi ro họ gánh chịu, họ sẽ rút lại vốn và cho vay sang nơi khác vì giá trị sẽ bị mất. Tối đa hóa tài sản ( giá trị) cổ đông là mục tiêu được chấp nhận bởi những giám đốc tài chính doanh nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây. Tài sản cổ đông được đo lường bằng lợi nhuận họ nhận được trên đầu tư.
Nó có thể hoặc là từ cổ tức hoặc dưới hình thức giá trị gia tăng của vốn hoặc cả hai. Sự tăng giá trị vốn phụ thuộc vào những thay đổi trong giá trị thị trường của chứng khoán nơi mà giá trị thị trường vượt trội.Vì vậy, yêu cầu cần phải có những đổi mới trong việc quản lý và kinh doanh, đặc biệt trong việc đánh giá thành quả tài chính doanh nghiệp và sự tạo giá trị cổ đông. Để đo lường thành quả doanh nghiệp cần phải có những thước đo tài chính và phi tài chính. Những thước đo truyền thống như :lợi nhuận hoạt động thuần sau thuế ( NOPAT), dòng tiền từ hoạt động ( OCF), thu nhập trên mỗi cổ phần ( EPS), tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ phần sử dụng ( ROCE), tỉ suất sinh lợi trên vốn cổ phần ( ROE).được các nhà quản lý sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì ngoài mục tiêu lợi nhuận doanh nghiệp còn theo đuổi mục tiêu giá trị, vì vậy, sử dụng các thước đo truyền thống để đánh giá thành quả doanh nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế. Trong 2 những năm gần đây, nhiều công ty đã đưa ra các biện pháp khác nhau dựa trên hiệu suất (VBM), chẳng hạn như EVA, thu nhập từ dòng tiền đầu tư, tổng lợi nhuận cổ đông (TSR) để phục vụ cho nhu cầu trên. EVA thu hút nhiều tập đoàn quản lý tốt nhất và lớn nhất thế giới ứng dụng nó vào việc đo lường thành quả. Phân tích EVA đã thu hút nhiều sự chú ý tại các nước phương Tây , tất cả như là một sự đổi mới quản lý , cũng như , phân tích thị trường chứng khoán .Tuy nhiên, việc nhận diện thước đo EVA là một thước đo đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.Sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam đã gia tăng áp lực lên các công ty phải luôn thực hiện tốt hơn.
Không có doanh nghiệp tồn tại hoặc phát triển nếu nó không tạo ra của cải cho các bên liên quan. Tối đa hóa lợi nhuận cũng như sự giàu có được tăng cường và giá trị tối đa hóa là sự khôn ngoan của ngày hôm nay. Một doanh nghiệp có thể tồn tại mà không có lợi nhuận nhưng nó không thể tồn tại mà không cần thêm giá trị. Một doanh nghiệp không tạo ra lợi nhuận sẽ có một sức khỏe kém ( như một số công ty trong khu vực công ).
Trong thời đại hiện nay của toàn cầu hóa , các công ty khu vực ở Việt Nam đang dần dần nhận ra tầm quan trọng của EVA và kết quả là một số công ty Việt Nam đã bắt đầu tính toán EVA cho các thuyết minh trên báo cáo hàng năm của họ và cũng sử dụng cho các mục đích quản lý EVA khác nhau. Tất cả những điều này đã tạo động lực để chúng tôi tiến hành nghiên cứu”Mối quan hệ giữa giá trị kinh tế gia tăng và những thước đo truyền thống với những biến động trong giá trị thị trường”.2 Câu hỏi nghiên cứu - Thước đo giá trị kinh tế gia tăng ( EVA) có thật sự tốt hơn so với những thước đo kế toán truyền thống trong việc đo lường những biến động trong giá trị thị trường (MVA)? - Liệu quan điểm của Stern Stewart rằng “ EVA là một phương pháp đo lường tốt” có còn đúng với ngành công nghiệp sản xuất ở Việt Nam hay không?