Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục phổ thông nói chung và cấp tiểu học nói riêng, môn Tiếng Việt giữ vai trò là công cụ giao tiếp và phương tiện chủ chốt để học sinh chiếm lĩnh tri thức. Tuy nhiên, đối với học sinh tiểu học người dân tộc Khmer tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, việc tiếp thu và sử dụng tiếng Việt gặp nhiều rào cản. Tình trạng học sinh không nắm vững vốn từ, dùng sai từ ngữ, không hiểu ngữ cảnh diễn đạt diễn ra phổ biến, khiến các em gặp khó khăn khi học các môn văn hóa bằng tiếng Việt và dẫn đến nguy cơ bỏ học gia tăng. Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn từ Báo Cần Thơ (ngày 02/04/2008), toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 34.000 học sinh các cấp bỏ học; riêng tỉnh Trà Vinh trong năm học 2006–2007 và học kỳ I năm học 2007–2008 đã có 11.500 học sinh bỏ học (tập trung cao tại các huyện Trà Cú, Càng Long, Châu Thành và thị xã Trà Vinh). Bên cạnh áp lực kinh tế gia đình, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc học sinh bị hổng kiến thức ngôn ngữ, tiếp thu thụ động theo lối dạy "thầy đọc, trò ghi chép và làm theo". Căn cứ theo Quyết định 53/CP của Hội đồng Chính phủ về vị trí ngôn ngữ chung của tiếng phổ thông, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh thực hiện đề tài nhằm giải quyết rào cản mở rộng vốn từ cho học sinh Khmer.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là khảo sát thực trạng, xác định nguyên nhân gây khó khăn trong việc mở rộng vốn từ của học sinh Khmer lớp 3 và lớp 5, từ đó đề xuất hệ thống nguyên tắc, biện pháp và thiết kế hoạt động hỗ trợ dạy học. Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt (trọng tâm là hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu các lớp 2, 3, 4, 5) cùng các tài liệu lý luận, tài liệu về đặc điểm học sinh dân tộc Khmer.
  2. Khảo sát thực tế khả năng thực hiện các bài tập mở rộng vốn từ của học sinh Khmer tại các trường tiểu học thuộc huyện Tiểu Cần và Trà Cú (tỉnh Trà Vinh).
  3. Nhận xét kết quả khảo sát, thống kê và phân loại các lỗi dùng từ của học sinh Khmer; phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
  4. Đề xuất các nguyên tắc, biện pháp sư phạm và thiết kế hệ thống hoạt động, trò chơi học tập ứng dụng vào việc mở rộng vốn từ cho học sinh Khmer.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dạng bài mở rộng vốn từ thuộc phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt tiểu học. Khách thể khảo sát và phạm vi thực nghiệm gồm giáo viên giảng dạy và học sinh tại 3 điểm trường trên địa bàn tỉnh Trà Vinh: Trường Tiểu học Tân Hùng A (xã Tân Hùng, huyện Tiểu Cần – trường đông học sinh Khmer), Trường Tiểu học Tập Ngãi A (xã Tập Ngãi, huyện Tiểu Cần – trường có số lượng ít học sinh Khmer học chung với học sinh người Kinh), và Trường Tiểu học Long Hiệp A (xã Long Hiệp, huyện Trà Cú – trường đạt chuẩn có đông học sinh Khmer).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên các nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu (2004), Lê A (2007), Nguyễn Đức Tôn (2003), Nguyễn Thiện Giáp (2003), Vũ Thị Kim Hoa (2007), Vũ Thị Ân (2007) và tài liệu giảng dạy về học sinh Khmer của Nguyễn Quang Minh (2007). Khung lý thuyết bao gồm:

  • Lý thuyết cấu tạo từ tiếng Việt: Phân định đơn vị cấu tạo từ (tiếng/hình vị), phương thức tạo từ (từ hóa hình vị, ghép, láy), phân loại từ đơn (đơn âm, đa âm thuần Việt, đa âm vay mượn) và từ phức (từ láy: đôi, ba, tư, bộ phận, toàn bộ; từ ghép: từ ghép thực gồm phân nghĩa và hợp nghĩa, từ ghép hư).
  • Ngữ nghĩa học và các lớp nghĩa: Phân tích 4 thành phần ngữ nghĩa của từ (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái, nghĩa liên tưởng).
  • Quan hệ ngữ nghĩa và trường nghĩa: Các quan hệ đồng nghĩa (hoàn toàn và không hoàn toàn), trái nghĩa, bao nghĩa, quan hệ tổng quát – bộ phận, quan hệ giao nghĩa; phân loại trường nghĩa (trường tuyến tính/ngang, trường đối vị/dọc gồm biểu vật, biểu niệm, liên tưởng).
  • Đặc điểm loại hình và sự giao thoa ngôn ngữ Khmer – Việt: Hai ngôn ngữ cùng thuộc ngữ hệ Môn – Khmer (họ Nam Á), cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình. Điểm khác biệt mấu chốt là âm tiết tiếng Khmer không mang thanh điệu. Tác giả phân tích hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ dẫn tới hòa mã (code-mixing) và chuyển mã (code-switching) trong giao tiếp của học sinh song ngữ Khmer – Việt.
  • Cơ sở thực tiễn và chương trình: Khung lý thuyết dạy học từ ngữ ở tiểu học với 3 nhiệm vụ trọng tâm (dạy nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ, tích cực hóa vốn từ); chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 2000; các định hướng từ Dự án Giáo dục Tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) về Tăng cường tiếng Việt (TCTV).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học và tài liệu chuyên ngành.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò: Thu thập ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt và sử dụng hệ thống phiếu bài tập khảo sát trên học sinh lớp 3, lớp 5.
  • Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi trực tiếp với Ban giám hiệu và giáo viên tại 3 trường tiểu học thuộc 2 huyện Tiểu Cần và Trà Cú.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp và đánh giá: Xử lý số liệu khảo sát, phân loại tỷ lệ lỗi để định hướng giải pháp.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp từ kết quả làm bài khảo sát của 74 học sinh Khmer và 51 học sinh người Kinh khối lớp 3 và lớp 5 tại các trường khảo sát thuộc tỉnh Trà Vinh năm học 2008–2009.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Một: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm ngôn ngữ học nền tảng về cấu tạo từ, ngữ nghĩa từ và trường từ vựng tiếng Việt làm căn cứ sư phạm. Tác giả đối chiếu ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Khmer, chỉ ra mối liên hệ cội nguồn ngữ hệ Nam Á và sự tương đồng về loại hình đơn lập, đồng thời nêu rõ điểm khác biệt về thanh điệu và ngữ âm. Chương này phân tích chi tiết hiện tượng hòa mã ở cộng đồng song ngữ (ví dụ: chèn từ tiếng Việt vào câu tiếng Khmer như "Ting quyển tập nung tâu", hoặc xen từ ngữ Khmer vào tiếng Việt như "Thưa thầy, bạn này mơ mê riên của bạn").

Về mặt thực tiễn, tác giả thống kê cấu trúc phân phối các tiết mở rộng vốn từ trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt cấp tiểu học:

  • Lớp 2: Gồm 19 tiết mở rộng vốn từ với 3 dạng bài tập chính (qua tranh vẽ gồm nối từ, gọi tên, tìm vật ẩn; theo quan hệ ngữ nghĩa; theo cấu tạo từ).
  • Lớp 3: Gồm 15 tiết mở rộng vốn từ (chiếm khoảng 50% thời lượng bài tập từ ngữ), tập trung vào các dạng bài tập theo chủ điểm, theo ý nghĩa khái quát, theo cấu tạo từ và giải ô chữ.
  • Lớp 4: Gồm 19 tiết mở rộng vốn từ, bổ sung việc giải nghĩa yếu tố Hán – Việt, sử dụng thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm.
  • Lớp 5: Gồm 18 tiết mở rộng vốn từ theo các chủ điểm lớn như Hòa bình, Hữu nghị – Hợp tác, Bảo vệ môi trường, Trật tự – An ninh, Nam và nữ.

Đồng thời, chương 1 phản ánh nhận thức còn hạn chế của phụ huynh học sinh Khmer, phương pháp giảng dạy còn nặng tính khuôn mẫu, lệ thuộc sách giáo viên của một bộ phận giáo viên, thiếu phương tiện trực quan và chưa chú trọng đúng mức đến tâm lý tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai của học sinh Khmer.

Chương Hai: Thực trạng sử dụng từ của HS Khmer (lớp 3 và lớp 5)

Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực chứng so sánh giữa hai nhóm đối tượng: học sinh Khmer và học sinh người Kinh tại 3 trường tiểu học ở Trà Vinh, tập trung vào 4 tiêu chí:

  1. Về lượng từ: Học sinh Khmer có vốn từ nghèo nàn hơn đáng kể. Qua các bài tập tìm từ, có 82,4% học sinh Khmer chỉ tìm được từ 0–5 từ; 17,6% tìm được 6–10 từ và không có học sinh nào đạt trên 10 từ. Câu văn của các em ngắn, thiếu từ miêu tả và biểu cảm (ví dụ viết: "Ba em rất nhân ái", "Mẹ em rất nhân từ").
  2. Về khả năng hiểu nghĩa từ: Học sinh Khmer gặp lúng túng khi nối từ với nghĩa cho trước. Ở lớp 3, chỉ có 9,4% học sinh Khmer xếp loại Tốt trong khi có tới 55,4% xếp loại Kém. Lên lớp 5, năng lực có chuyển biến với 52,7% xếp loại Tốt và 5,4% Kém, tuy nhiên vẫn thấp hơn nhóm học sinh Kinh cùng khối.
  3. Về khả năng hệ thống hóa vốn từ: Học sinh Khmer phân loại trường nghĩa chưa chuẩn xác, nhầm lẫn giữa từ chỉ sự vật với từ chỉ hoạt động, tính chất (ví dụ gạch chân cả cụm từ "chạy như bay", "hét vang", chọn nhầm từ "bụng", "chữa", hoặc xếp nhầm "nhường nhịn, chăm chỉ" vào nhóm việc làm của trẻ em).
  4. Về kỹ năng sử dụng từ và đặt câu: Kết quả làm bài tập đặt câu ghép và điền từ cho thấy độ chênh lệch lớn giữa hai nhóm học sinh:
Tiêu chí khảo sát Nhóm HS Khmer ($n=74$) Nhóm HS người Kinh ($n=51$)
Xếp loại Kỹ năng dùng từ (Lớp 3: Tốt - Kém) 32,4% Tốt — 36,5% Kém 65,2% Tốt — 9,0% Kém
Xếp loại Kỹ năng dùng từ (Lớp 5: Tốt - Kém) 20,3% Tốt — 23,0% Kém 27,5% Tốt — 19,6% Kém
Đặt câu ghép (Lớp 5: Hoàn thành đủ 2 câu) 7/74 HS (9,5%) 22/51 HS (43,1%)
Đặt câu ghép (Lớp 5: Không hoàn thành) 40/74 HS (54,0%) 21/51 HS (42,1%)
Đặt câu với từ tìm được (Đúng yêu cầu) 36/74 HS (48,6%) 43/51 HS (86,3%)
Đặt câu với từ tìm được (Chưa đặt được câu) 33/74 HS (44,6%) 7/51 HS (13,7%)

Chương này phân loại chi tiết các lỗi dùng từ của học sinh Khmer thành 5 nhóm: Lỗi thừa từ/lặp từ; Lỗi sai âm do ảnh hưởng phát âm địa phương và không dấu thanh (lẫn lộn s/x, v/d, d/gi/r, an/ang, ong/ông, ac/at); Lỗi sai nghĩa (dùng sai từ trong ngữ cảnh cụ thể); Lỗi sai phong cách (đưa khẩu ngữ tự nhiên vào văn viết như "quá trời", "học giỏi lắm"); Lỗi dùng từ sáo rỗng.

Nguyên nhân được xác định do: tâm lý rụt rè, mặc cảm tự ti của học sinh Khmer khi giao tiếp tiếng Việt; sự giao thoa và thói quen chuyển dịch nghĩa nguyên văn từ tiếng mẹ đẻ (ví dụ tiếng Khmer nói "tâw mus tuck" nên các em nói tiếng Việt thành "đi tắm nước", hoặc diễn đạt "người cô gái" thay vì "người con gái"); giáo viên giảng dạy còn nặng về thuyết giảng, chưa có đồ dùng dạy học đặc thù cho học sinh dân tộc.

Chương Ba: Một số giải pháp MRVT cho HS tiểu học người dân tộc Khmer

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm toàn diện được xây dựng trên 3 nhóm nguyên tắc cốt lõi:

  • Nguyên tắc hệ thống: Dạy từ theo các chủ điểm gần gũi với đời sống địa phương (cảnh quan trường lớp, thiên nhiên buôn làng), đi từ đơn giản đến phức tạp.
  • Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp: Rèn luyện 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết trong môi trường ngôn ngữ thực tế, chú trọng sửa lỗi tế nhị tránh gây mặc cảm cho học sinh.
  • Nguyên tắc hướng vào phát triển nhân cách và tư duy: Kết hợp dạy tiếng với dạy văn hóa, văn học; phát triển song song ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

Về biện pháp tổ chức dạy học, tác giả đề xuất:

  1. Đổi mới phương tiện và thiết kế phiếu học tập, bảng nhóm, bộ thẻ từ trực quan theo chủ điểm.
  2. Điều chỉnh, thiết kế lại yêu cầu bài tập trong sách giáo khoa cho phù hợp với nhận thức của học sinh Khmer (chuyển câu lệnh trừu tượng thành dạng bảng biểu, gạch bỏ từ lạc nhóm).
  3. Chuẩn hóa quy trình dạy học bài mở rộng vốn từ gồm 4 bước: (A) Kiểm tra bài cũ tích hợp 4 kỹ năng; (B) Dạy bài mới gồm Giới thiệu bài -> Hướng dẫn làm bài tập theo 4 bước nhỏ (Đọc xác định yêu cầu, Chữa mẫu một phần, Tổ chức làm bài cá nhân/nhóm, Trao đổi nhận xét chữa bài) -> (C) Củng cố, dặn dò.
  4. Tích hợp dạy từ trong nội bộ phân môn Luyện từ và câu, các phân môn Tiếng Việt khác (Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện, Tập làm văn) và các môn học khác.
  5. Vận dụng các phương pháp của giải pháp Tăng cường tiếng Việt (TCTV - Dự án PEDC) như: Phương pháp trực tiếp (tự nhiên), phương pháp giao tiếp, sử dụng tiếng mẹ đẻ làm cầu nối, phương pháp trực quan hành động, sử dụng hệ thống thẻ từ TCTV và tổ chức các trò chơi học tập.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa số liệu thực trạng: Cung cấp bức tranh thực nghiệm định lượng về mức độ chiếm lĩnh vốn từ của học sinh Khmer lớp 3 và lớp 5 tại Trà Vinh, xác nhận tỷ lệ học sinh Khmer gặp khó khăn ở kỹ năng đặt câu ghép (54% không hoàn thành) và nhận thức nghĩa từ thấp hơn rõ rệt so với học sinh người Kinh.
  • Nhận diện và phân loại lỗi ngôn ngữ: Chỉ rõ các lỗi điển hình do giao thoa ngôn ngữ Khmer – Việt (hiện tượng không dấu thanh, dịch thô từ tiếng mẹ đẻ như "đi tắm nước"), giúp giáo viên tiểu học nắm bắt chính xác nguồn gốc lỗi của học sinh dân tộc thiểu số.
  • Đóng góp về mặt phương pháp dạy học: Đề xuất quy trình 4 bước hướng dẫn học sinh giải bài tập mở rộng vốn từ kết hợp phương pháp làm mẫu sư phạm; xây dựng phương án điều chỉnh cấu trúc lệnh bài tập sách giáo khoa giúp học sinh dễ thao tác.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Khác với công trình của Nguyễn Quang Minh (2007) chỉ nghiên cứu trên đối tượng học sinh trung học phổ thông, hoặc sách của Phan Thiều – Lê Hữu Tỉnh viết cho chương trình cũ, khóa luận này đi sâu trực tiếp vào đối tượng học sinh tiểu học người Khmer (lớp 3 và lớp 5) trong khuôn khổ chương trình Tiếng Việt 2000 và định hướng dự án TCTV (PEDC).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát thực tế trong phạm vi 3 trường tiểu học thuộc 2 huyện Tiểu Cần và Trà Cú của tỉnh Trà Vinh trên mẫu 74 học sinh Khmer và 51 học sinh người Kinh; chưa khảo sát mở rộng ra toàn bộ các tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống như Sóc Trăng hay An Giang (nơi có các phương ngữ Khmer khác nhau).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu sang việc xây dựng môi trường học tập tăng cường tiếng Việt toàn diện, thiết kế chi tiết thêm các tài liệu hỗ trợ giảng dạy, hệ thống trò chơi ngôn ngữ chuyên biệt và mở rộng đối tượng nghiên cứu sang các khối lớp 1, lớp 2, lớp 4.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Tiếng Việt: Cung cấp hệ thống lý thuyết về cấu tạo từ, ngữ nghĩa học tiểu học và quy trình sư phạm bài tập mở rộng vốn từ.
  • Giáo viên tiểu học vùng dân tộc thiểu số (đặc biệt vùng Đồng bằng sông Cửu Long): Tham khảo các biện pháp cải biên câu lệnh bài tập sách giáo khoa, kỹ thuật giải nghĩa từ bằng trực quan và cách thức ứng dụng phương pháp TCTV trong lớp học đa văn hóa, đa ngôn ngữ.
  • Cán bộ quản lý giáo dục tiểu học: Có thêm cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dạy học sinh song ngữ Khmer – Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiến hành khảo sát thực tế tại những trường tiểu học nào và số lượng học sinh tham gia là bao nhiêu?
Khóa luận khảo sát tại 3 trường tiểu học thuộc tỉnh Trà Vinh gồm: Tiểu học Tân Hùng A (xã Tân Hùng, huyện Tiểu Cần), Tiểu học Tập Ngãi A (xã Tập Ngãi, huyện Tiểu Cần) và Tiểu học Long Hiệp A (xã Long Hiệp, huyện Trà Cú). Dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 74 học sinh Khmer và 51 học sinh người Kinh ở khối lớp 3 và lớp 5.

2. Tỷ lệ học sinh Khmer lớp 5 hoàn thành trọn vẹn bài tập đặt câu ghép trong phiếu khảo sát là bao nhiêu?
Theo kết quả thống kê ở Chương 2, chỉ có 7 trên tổng số 74 học sinh Khmer lớp 5 (tương đương 9,5%) hoàn thành đúng cả 2 câu ghép; 27 học sinh (36,5%) hoàn thành 1 câu; và có tới 40 học sinh (54,0%) không hoàn thành được bài tập.

3. Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Khmer và tiếng Việt dẫn đến những lỗi dùng từ cụ thể nào ở học sinh?
Do thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ không có thanh điệu và cách kết hợp từ tiếng Khmer, học sinh thường mắc lỗi chính tả âm vần (s/x, v/d, an/ang), dịch nghĩa từng từ thô từ tiếng Khmer sang tiếng Việt (như nói "đi tắm nước" từ "tâw mus tuck", hay nói "người cô gái"), và sử dụng hòa mã xen lẫn tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp.

4. Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học (2000) có bao nhiêu tiết mở rộng vốn từ ở từng khối lớp?
Theo bảng tổng hợp của tác giả ở Chương 1, số lượng tiết dạy mở rộng vốn từ được phân bổ cụ thể: Lớp 2 có 19 tiết, Lớp 3 có 15 tiết, Lớp 4 có 19 tiết và Lớp 5 có 18 tiết.

5. Tác giả đề xuất quy trình tổ chức hướng dẫn học sinh làm bài tập mở rộng vốn từ gồm những bước nào?
Quy trình gồm 4 bước thao tác: (1) Đọc và xác định rõ yêu cầu bài tập; (2) Hướng dẫn chữa một phần bài tập để làm mẫu sư phạm; (3) Tổ chức cho học sinh thực hiện làm bài (cá nhân, nhóm hoặc phiếu học tập); (4) Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả, chữa bài và rút ra ghi nhớ kiến thức.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mỹ Linh đã phân tích toàn diện cơ sở ngôn ngữ học và thực trạng mở rộng vốn từ của học sinh tiểu học dân tộc Khmer tại tỉnh Trà Vinh. Thông qua các số liệu khảo sát đối chiếu cụ thể, tác giả chỉ rõ những hạn chế về vốn từ, kỹ năng hiểu nghĩa và khả năng đặt câu của học sinh, đồng thời phân tích sâu sắc các nguyên nhân do tâm lý và giao thoa song ngữ. Hệ thống giải pháp, nguyên tắc sư phạm và quy trình dạy học tích hợp được đề xuất trong khóa luận mang giá trị thực tiễn thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số.