mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiết kiệm không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ nhận được tiền. Dịch vụ ngân hàng hiện đại Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu hầu hết các Ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản vay cho tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao.Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dung và sự canh tranh trong cho vay đã buộc các Ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng.Sau chiến tranh thế giới thứ 2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành mổttong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tài trợ dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các nghành công nghệ cao.Do loại hình tín dụng này, nhìn chung rủi ro cao song lãi lại lớn. Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng giúp cho việc mua hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau.
Mỗi người có thể được cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ tín dụng của anh ta, các tài khoản này hoàn toàn tách khỏi tài khoản thông thường của Ngân hàng và chỉ dành cho các thẻ do Ngân hàng phát hành;thẻ tín dụng được mở tại phòng thẻ tín dụng của Ngân hàng.Việc thanh toan hàng hoá, dịch vụ được thực hiện tại nơi có máy đặc biệt để lập các hoá đơn ghi các giao dịch bán hàng và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của loại thẻ tín dụng mà chúng chấp nhận. Máy rút tiền tự động (ATM): Thập niên 80 chứng kiến sự phát triển của các máy rút tiền tự động đa chức năng.Những máy này đã được nối mạng điện toán nhằm cung cấp rất nhiều dịch vụ Ngân hàng và vận hành với thế hệ mới nhất của các tấm thẻ nhựa có một dải từ tính được lưu trữ các chi tiết tài chính cá nhân của người cầm thẻ.Các ngân hàng khác nhau thì vận hành các loại máy khác nhau.Khi đưa thẻ vào máy, hành động này kết nối máy ATM với máy tính của Ngân hàng.Thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ tính của thẻ, máy tính có thẻ tra cứu tài khoản của khách hàng.Máy rút tiền sau đó có thể đưa ra số tiềnmặt mà người cầm thẻ muốn rút với một giới hạn nào đó, chỉ có chủ thẻ mới biết số dư trong tài khoản của anh ta,giúp anh ta đặt sổ séc hay một lệnh thanh toán chuyển khoản với điều kiện phải chi tiết về Ngân hàng của người được thanh toán. Trong một số trường 9 hợp,giữa các Ngân hàng có sự hợp tác với nhau, theo đó một thẻ ATM của Ngân hàng này có thẻ được dùng với máy rút tiền của Ngân hàng khác trong khi vẫn có thể ghi nợ vào đúng tài khoản. Kinh doanh ngoại tệ: Trong thị trường tài chính hiện nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các Ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
Dịch vụ ngân hàng tại gia: Trong khi ATM cung cấp dịch vụ Ngân hàng điện tử thì ngân hàng tại gia lại mạng đến lợi ích khác.Sử dụng hệ thống này, một người có tài khoản có thể hoặc gửi thông tin vào máy tính của ngân hàng qua điện thoại hoặc nối 1 chiếc ti vi hay man hình tại nhà với máy tính của ngân hàng qua điện thoại.Theo cách này, các giao dịch ngân hàngcó thể thực hiện 24/24h, suốt 7 ngày trong tuần.Thông thường thì các chủ tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, tài khoản ngân quỹ và tài khoản đa năng có thể được sử dụng dịch vụ này. Để phòng chống việc sử dụng không được phép, mỗi chủ tài khoản đều phải mở mã số an toàn riêng trước khi thực hiện giao dịch. Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán: Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến kinh doanh chứng khoán.
Trong một vài trường hợp ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát triển , uỷ thác đầu tư.
Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố taif sản, bảo quản tài sản có giá. Nhiều khách hàng coi ngân hàng như một chuyên gia 10 tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý về tài chính, về thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp. Quản lý đầu tư: Một trong những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp là quản lý đầu tư cho khách hàng.Điều này đặc biệt phù hợp cho khách hàng là tư nhân đã có đầu tư vào thị trường chứng khoán hoặc những ai muốn đầu tư theo cách này.Để quản lý tốt các khoản đầu tư, cần phỉa có thời gian và kĩ năng chuyên môn mà các ngân hàng có khả năng cung cấp trên cơ sở một khoản phí nào đó.
Dịch vụ này dành cho tất cả các khách hàng tư nhân là người đầu tư dài hạn, chỉ không dành cho nhữnh nhà đầu tư tìm kiếm thu nhập ngắn hạn, muốn thay đổi liên tục trong đầu tư.Đối với khách hàng là doanh nghiệp, ngân hàng có những chính ssách quản lý đầu tư đặc biệt riêng. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng,điều đó đảm bảo cho việc hoàn trả trong trường hợp khach hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh, mất khả năng thanh toán. Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của một ngân hàng cho một khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hànanTrong những năn gần đây,nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh.Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán,vay vốn của tổ chức tín dụng khác… 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử [1] 1.
Khái niệm Trong thời gian vừa qua, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ về quy mô cũng như chất lượng dịch vụ ngân hàng đặc biệt là dịch vụ ngân hàng điện tử (e – banking), mang lại sự thuận tiện, hiệu quả rất lớn cho khách hàng, ngân hàng và xã hội. Một ngân hàng muốn nâng cao năng lực cạnh tranh không thể không chú trọng đến việc phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử. Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ ngân hàng điện tử: 11 Theo Ngân hàng thế giới (2003): “Dịch vụ dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng được cung cấp cho khách hàng bán buôn và bán lẻ thông qua kênh ngân hàng điện tử”. Tạp chí The Australian Banking (1999) cho rằng: “Dịch vụ ngân hàng điện tử là hệ thống phần/ mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy tính của mình với ngân hàng”.
Theo Trương Đức Bảo (2003): “Với dịch vụ nhân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy cập từ xa nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới”. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005):“Các dịch vụ và sản phẩm Ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối điện tử (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động,.) được gọi là dịch vụ Ngân hàng điện tử”. Từ các định nghĩa trên, có thể định nghĩa tổng quát nhất về NHĐT như sau: NHĐT bao gồm tất cả các giao dịch giữa nhân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hoá nhằm cũng cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Ngoài các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng nói chung, dịch vụ ngân hàng điện tử còn có các đặc điểm sau: - Nhanh chóng, thuận tiện: Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ngắn nhất.
Một nhân viên có thể thực hiện hàng ngàn giao dịch chuyển khoản trong dịch vụ ngân hàng điện tử trong một ngày, trong khi làm theo cách truyền thống thì chỉ thực hiện vài trăm cuộc giao dịch. Khách hàng không cần phải đến ngân hàng kí vào giấy tờ, viết phiếu chuyển tiền, chờ xếp hàng,… họ chỉ cần thực hiện giao dịch trên máy tính, mày điện thoại, gọi một cuộc điện thoại,…tại nhà, tại phòng làm việc, ở quán cà phê,… Khách hàng 12 có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian di chuyển, xếp hàng chờ giao dịch nhờ đó nắm bắt được nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh hơn. Bên cạnh đó, thông qua các dịch vụ của e- banking, các lệnh về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh, thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền-hàng, qua đó, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Chi phí giao dịch thấp: Thực hiện các giao dịch qua dịch vụ ngân hàng điện tử có thể giúp khách hàng tiết kiệm đến từng đồng nhờ việc cắt giảm các chi phí bưu điện hay phí ATM.