phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về mở rộng Cho vay nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động Cho vay nông nghiệp, nông thôn của NHNo&PTNT – chi nhánh Hà Tây Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay nông nghiệp, nông thôn tại NHNo&PTNT – chi nhánh Hà Tây 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Luật các tổ chức tín dụng của VN năm 2010, thì “cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi”; “Cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”(Luật các tổ chức tín dụng, 2010). Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dƣới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động đƣợc từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.
Cho vay là quyền của NHTM với tƣ cách là ngƣời cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách hàng của mình - ngƣời đi vay muốn vay đƣợc vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho ngƣời cho vay có thể thu hồi đƣợc vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định. Để thu hồi đƣợc vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu ngƣời đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ độ tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu (NHTM) sang ngƣời sử dụng (ngƣời vay – khách hàng) sau một thời gian nhất định lại quay về với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Hay cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và ngƣời vay), trong đó một bên (NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (ngƣời vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận.
4 Nhƣ vậy, bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mƣợn dựa trên cơ sở tin tƣởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó, sự hoàn trả là đặc trƣng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của ngân sách Nhà nƣớc. Đây là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tƣ.
Phân loại cho vay Cho vay ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau: Phân theo mục đích sử dụng vốn: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay phân làm 2 loại: Cho vay phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: là loại cho vay nhằm cung cấp cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ và cá nhân để trực tiếp tiến hành sản xuất hàng hóa và kinh doanh. Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay hộ, cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm, sửa chữa nhà, tài sản và các tƣ liệu tiêu dùng. Phân loại theo thời hạn tín dụng Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dƣới 12 tháng. Mục đích của loại cho vay này thƣờng là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản lƣu động.
Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản cố định. Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này thƣờng là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào dự án đầu tƣ.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của ngƣời khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay nhƣ thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Phân loại theo phương thức cho vay Việc thực hiện phân loại cho vay theo phƣơng thức vay thực chất là hình thức tổ 5 chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phƣơng thức cho vay: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tƣ: Ngân hàng và khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống.
Cho vay hợp vốn: Một nhóm NHTM cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phƣơng án vay vốn của khách hàng; Trong đó, có một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo Quy chế và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng, khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả chi hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng đƣợc sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm rút tiền mặt là đại lý của ngân hàng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định về phát hành, sử dụng thẻ tín dụng nhƣ các quy định về thời gian hay hạn mức cấp tín dụng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Các phƣơng thức cho vay khác: Các phƣơng thức cho vay khác mà pháp luật không cấm phù hợp với quy định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đặc điểm của khách hàng vay. 6 Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay Có 3 phƣơng thức hoàn trả nợ vay: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp Cho vay trả nợ nhiều lần nhƣng không kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của ngƣời đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào. Điều kiện cho vay Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam: Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự; Cá nhân và chủ doanh nghiệp tƣ nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nƣớc ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nƣớc mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công nhân, nếu pháp luật nƣớc ngoài đó đƣợc Bộ Luật Dân sự của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc điều ƣớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định… 1.
Nguyên tắc cho vay Cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu, mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro nhất, để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, góp phần hạn chế rủi ro, ngân hàng cần thiết phải đề ra và thực hiện các nguyên tắc nhất định trong quá trình cho vay, điều này không chỉ có ý nghĩa đối với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả khách hàng và cả nền kinh tế.