CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chung nào cho tất cả các quốc gia trên thế giới thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Bởi mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế khác nhau, những đặc trưng riêng biệt, những tiêu chí phân loại khác nhau.
Do đó, việc xác định DNVVN tại một quốc gia chỉ mang ý nghĩa tương đối.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa vả nhỏ ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ. Tiêu chí áp dụng Nước Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Inđônêxia <100 <0.6 tỷ Rupi Xingapo <100 <499 triệu USD Thái Lan <100 <200 Bath <300 trong CN, XD <0,6 triệu USD Hàn Quốc <200 trong TM&DV <0,25 triệu USD <100 trong bán buôn <10 triệu yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ <100 triệu yên EU <250 <27 triệu ECU Mêhicô <250 <7 triệu USD Mỹ <500 <20 triệu USD (Nguồn: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam – NXB CTQG, tr2) 14 Việc phân loại doanh nghiệp theo mỗi tiêu chí có mặt tích cực và hạn chế riêng. Hiện nay tùy theo điều kiện của mình, từng nước sử dụng kết hợp các tiêu chí khác nhau. Ở Việt Nam, khi vai trò của DNVVN được khẳng định, yêu cầu có quan điểm thống nhất về DNVVN ngày càng cấp thiết.
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001 “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Để phù hợp với những sự phát triển của nền kinh tế thế giới và trong nước, ngày 30/06/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp các DNVVN thay thế cho Nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Nghị định mới đã chỉ rõ hai điểm nổi bật so với nghị định trước đây. Đó là sự cụ thể hóa các tiêu chí xác định DNVVN theo điều kiện mới.
Điều 3 của Nghị định đã chỉ rõ quan niệm về DNVVN: “là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Theo đó, các DNVVN sẽ được phân loại dựa trên các tiêu chí về quy mô vốn, số lượng lao động và khu vực như bảng phân loại sau: 15 Bảng 1.2: Tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực nguồn vốn vốn I. Nông, lâm từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng nghiệp và thủy người đến đồng đến 100 người đến 300 xuống trở xuống sản 200 người tỷ đồng người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến 300 và xây dựng xuống trở xuống 200 người tỷ đồng người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến 100 mại và dịch vụ xuống trở xuống người đồng người (Nguồn: Nghị định sô 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ) Tóm lại, DNVVN là tổ chức kinh tế, có đầu tư và xúc tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các nghĩa vụ tài chính, đăng ký và chịu sự quản lý của các cấp chính quyền Nhà nước theo pháp luật, đáp ứng những quy định của Chính phủ về quy mô lao động và vốn. Quan niệm về DNVVN ở Việt Nam tuy có thay đổi về các tiêu chí qua từng thời kỳ, song vẫn dựa vào hai tiêu chí cơ bản là nguồn vốn và tổng số lao động bình quân, có tham khảo thêm một số tiêu chí khác: lĩnh vực linh doanh, khu vực kinh tế, ngành kinh tế. Đặc điểm của DNVVN Thứ nhất, DNVVN năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNVVN.
DNVVN chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Với mặt hàng phong phú đa dạng, thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DN lớn đã giúp cho các DNVVN dễ dàng chiếm được thị trường. DNVVN luôn phải hướng đến thị hiếu của người tiêu dùng, vì vậy có thể nói đây là lực lượng phản ánh tín hiệu của thị trường chính xác nhất. Mặt khác, với 16 số vốn ít, vòng quay vốn của các DNVVN thường là ngắn, các phương án sản xuất kinh doanh không lâu dài như các DN lớn.
Với lợi thế đó, DNVVN dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trường. So với các DN lớn, DNVVN không gặp nhiều tổn thất khi thị trường biến động. Thứ hai, các DNVVN hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương đối lạc hậu, không đồng bộ và năng lực quản lý còn hạn chế Công nghệ lạc hậu không chỉ là hạn chế của các DNVVN Việt Nam, mà còn là tình trạng chung tại các nước đang phát triển. Bản thân DN và Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cải tiến và đổi mới công nghệ, tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao.
Trong những năm gần đây, các DNVVN của Việt Nam đã tiến hành nhập ngoại nhiều công nghệ hiện đại, nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc mua và chuyển giao công nghệ, nên hầu như các máy móc thiết bị không sử dụng được hoặc sử dụng không đúng năng suất. Thậm chí một số chủ DN do không có kinh nghiệm nên trở thành nạn nhân của những thương vụ chuyển giao công nghệ, gây thiệt hài nặng nề cho bản thân DN. Mặt khác, do chi phí nhập ngoại công nghệ tương đối lớn so với quy mô vốn nên các DNVVN thường không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ. Nhiều DNVVN đã chọn phương án mỗi kì mua một ít, rồi sau đó mới cải tiến dần dần.
Điều này đã gây ra việc dây chuyền sản xuất không thể khai thác hết công suất, sản phẩm sản xuất ra không đảm bảo chất lượng, không có sức cạnh tranh trên thị trường… Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DN là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên. Nhiều chủ DN không nhận thức được tầm quan trọng của công cuộc đổi mới công nghệ, hoặc nhận thức được nhưng không đủ nỗ lực và nhạy bén để thực hiện. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh chính, điều này phần nào hạn chế tầm nhìn chiến lược phát triển lâu dài cho DN. Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DNVVN hiện đang là một vấn đề được các nước rất quan tâm và chú trọng cải thiện.
Thứ ba, DNVVN góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm nhưng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém 17 DNVVN thu hút khá nhiều lực lượng lao động trong nền kinh tế. Từ lao động thủ công, lao động có tay nghề đến lao động có trình độ cao đều có cơ hội làm việc tại các DNVVN. Tuy nhiên lực lượng lao động có trình độ thấp là chủ yếu chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các DN này thường không hiệu quả. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chất lượng lao động tại các DNVVN còn thấp.
Nguyên nhân đầu tiên đó là do đặc thù ngành nghề của DN. Các DNVVN chủ yếu cung cấp các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho xã hội, trong đó chủ yếu là các sản phầm tiêu dùng và các sản phẩm truyền thống. Bên cạnh các ngành mới nổi như điện tử, viễn thông…thì các DNVVN chủ yếu hoạt động trọng các ngành nghề quen thuộc như dệt may, thủy sản, chế biến lương thực thực phẩm…Trong khâu sản xuất của những ngành này thường không yêu cầu cao về trình độ lao động, chủ yếu sử dụng lao động tay chân hoặc lao động truyền thống, không qua đào tạo chính quy. Ngoài ra DNVVN chủ yếu được hình thành từ hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, hoặc một nhóm người có quan hệ gia đình, bạn bè lập nên, do đó tính chọn lọc không cao.
Với đội ngũ lao động không qua trường lớp, hoạt động của các DNVVN càng trở nên trì trệ và lỗi thời so với các DN lớn. Thêm vào đó, khả năng thu hút lao động có trình độ cao cũng là một nguyên nhân chính dẫn đến việc chất lượng lao động DNVVN còn yếu. Với quy mô vốn nhỏ và trình độ quản lý hạn chế của chủ DN, các DNVVN ít có khả năng thu hút được những người lao động có trình độ, tay nghề cao. Ngoài ra các DNVVN cũng khó có thể trả lương cao, có các chính sách đãi ngộ cũng như tạo ra môi trường làm việc canh tranh hấp dẫn để thu hút và giữ chân những người lao động giỏi nhu những DN, tập đoàn kinh tế lớn mạnh.
Thứ tư, DNVVN có quy mô vốn nhỏ nên năng lực cạnh tranh còn thấp Theo tổng cục thống kê – Bộ kế hoạch và đầu tư hiện nay số DNVVN chiếm 97% trên tổng số doanh nghiệp trên cả nước, nhưng số vốn đăng ký của các DNVVN chỉ chiếm 30% tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong cả nước và hầu hết các doanh nghiệp đều có số vốn dưới 5 tỷ. Nếu xét theo nguồn vốn chính thức và phi chính thức thì trong tổng nguồn vốn của DNVVN chỉ có khoảng 20% là nguồn vốn chính thức còn lại đến 80% là nguồn 18 vốn phi chính thức. Nguồn vốn chính thức các DNVVN vay từ ngân hàng thương mại và nguồn vốn viện trợ của các tổ chức trong và ngoài nước. Nguồn vốn phi chính thức là nguồn vốn vay từ bạn bè, sử dụng tín dụng thương mại của đối tác kinh doanh.
Tuy nhiên nguồn vốn phi chính thức thường có lãi suất cao, rủi ro lớn, không ổn định, số lượng vốn nhỏ không đáp ứng được nhu cầu mua bán máy móc. Đối với nguồn vốn chính thức, các DNVVN rất khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn.