Chương I của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN nếu căn cứ vào thời hạn thì ngân hàng thương mại có các hình thức cho vay sau: - Vay ngắn hạn. - Vay trung hạn. - Vay dài hạn. Căn cứ theo phƣơng thức cho vay Căn cứ theo Điều 27, Chương II của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN về phương thức cho vay thì ngân hàng thương mại có các hình thức sau: - Cho vay từng lần.
- Cho vay hợp vốn. - Cho vay lưu vụ. - Cho vay theo hạn mức. - Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán. - Cho vay quay vòng. - Cho vay tuần hoàn (rollover). 18 Căn cứ theo khách hàng đi vay Thông qua tiêu thức phân loại này, các ngân hàng thương mại phân chia khách hàng của mình thành từng nhóm đối tượng khác nhau, từ đó lập ra kế hoạch và chiến lược phù hợp với đặc điểm riêng cho từng đối tượng khách hàng như sau: - Khách hàng là Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.
- Khách hàng là tổ chức tín dụng. - Khách hàng là các cá nhân. Căn cứ theo độ tín nhiệm của khách hàng Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Điều 15 thì ngân hàng thương mại phân chia loại cho vay thành các loại sau: - Cho vay không có tài sản đảm bảo. - Cho vay có tài sản đảm bảo.
Tuy nhiên việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng bảo đảm tiền vay còn tùy thuộc vào thỏa thuận của ngân hàng và khách hàng. Nói một cách tổng thể, tùy theo mục đích quản lý, chiến lược kinh doanh mà mỗi ngân hàng thương mại sẽ cách phân loại các khoản vay theo tiêu thức riêng của mình. Trên thực tế, các Ngân hàng thường kết hợp áp dụng nhiều tiêu thức phân loại với nhau. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay và mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cho vay khách hàng cá nhân nhưng nhìn chung, chúng ta có thể hiểu cho vay khách hàng cá nhân theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Điều 2 Mục 4,5 là: “Một hình thức cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu phát sinh vốn của các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình. Là nguồn vốn quan trọng giúp những đối tượng này trang trải nhu cầu sản 19 xuất kinh doanh, nhu cầu nhà ở, trang thiết bị sinh hoạt, xe cộ. Bên cạnh đó, các nhu cầu chi tiêu cho giáo dục, y tế, dịch vụ. cũng có thể được tài trợ”.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân có các đặc điểm riêng phân tách mình khỏi nhiều loại hình cho vay khác như sau: Đối tượng: Nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân là những dịch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm tận tay cho người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và sinh hoạt). Do đó, đối tượng khách hàng của cho vay khách hàng cá nhân thường là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và đa dạng về hình thức phục vụ. (Nguyễn Đăng Dờn 2014, trang 297) Hình thức vay vốn: Với nhận định của Nguyễn Đăng Dờn (2014, trang 312) thì căn cứ vào nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh có các hình thức sau: - Vay từng lần (theo món): là hình thức vay vốn theo đó khách hàng sẽ làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay và số tiền rút vốn tối đa bằng số tiền cho vay theo thỏa thuận tại HĐTD ký giữa ngân hàng thương mại và khách hàng. - Vay theo hạn mức tín dụng: là hình thức vay vốn theo đó ngân hàng thương mại cùng khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích bổ sung nhu cầu vốn lưu động.
Khách hàng có thể rút vốn nhiều lần theo nhu cầu thực tế nhưng tổng dư nợ tại mọi thời điểm không được vượt quá hạn mức tín dụng được cấp. Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng và ngân hàng thương mại sẽ ký một hợp đồng tín dụng cụ thể. - Vay theo hạn mức thấu chi: là hình thức ngân hàng thương mại cho khách hàng được chi số tiền vượt quá số tiền 20 có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình mở tại ngân hàng thương mại và sử dụng cho mục đích kinh doanh. Thời hạn vay vốn: Thường đa dạng, có thể bao gồm ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và phụ thược vào chu kỳ kinh tế.
Cụ thể như sau theo Nguyễn Đăng Dờn (2014, trang 314): - Đối với cho vay hạn mức và thấu chi: Thời hạn cho vay tối đa 12 tháng cho mỗi hợp đồng cấp tín dụng hạn mức hoặc thấu chi. - Đối với cho vay từng lần theo hình thức cho vay đầu tư: Đây là những khoản tín dụng trung dài hạn nên thời gian thường trên 2 năm. Quy mô vốn và số lượng các khoản vay: Theo nhận định của Đường Thị Thanh Hải (2014) thì ngoại trừ các khoản vay sản xuất kinh doanh thì các khoản vay của khách hàng cá nhân thường có quy mô vốn nhỏ hơn so với cho vay các đối tượng là doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Tuy nhiên đối tượng khách hàng của cho vay khách hàng cá nhân là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nên số lượng các khoản vay lại rất lớn và tùy thuộc theo định hướng hoạt động mà quy mô vốn và số lượng các khoản vay của khách hàng cá nhân ở mỗi Ngân hàng thương mại sẽ có sự khác nhau.
Chi phí cho vay: Dù các khoản cho vay khách hàng cá nhân thường có quy mô nhỏ nhưng với số lượng lớn và diễn biến phức tạp nên việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Khiến các Ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí cả về nhân lực lẫn công cụ để xét duyệt, thẩm định và quản lý các khoản vay này. Vậy nên chi phí tính trên mỗi đồng cho khách hàng cá nhân cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. (Đường Thị Thanh Hải 2014) 21 Lãi suất cho vay: các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt.
Khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định tuỳ theo từng ngân hàng.
(Đường Thị Thanh Hải 2014) Rủi ro tín dụng: Cho vay khách hàng cá nhân có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của Ngân hàng. Sở dĩ, theo Đường Thị Thanh Hải (2014) thì nguồn trả nợ của cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu đến từ thu nhập của chính người đi vay mà tình hình tài chính của các cá nhân, hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Chưa kể đến, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các cá nhân, hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng không cao, dẫn Ngân hàng đến rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản. Ngoài ra để có được khoản vay, nhiều khách hàng giấu bớt các thông tin hay đưa ra các thông tin kém minh bạch, không rõ ràng khiến Ngân hàng phải đối diện với rủi ro.
Có thể nói tư cách khách hàng là một yếu tố quan trọng, quyết định sự hoàn trả của người vay nhưng nó cũng lại là yếu tố định tính không thể đo lường được. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Với thực trạng Việt Nam hiện nay, khi môi trường chính trị dần ổn định, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, môi trường kinh tế liên tục tăng trưởng qua nhiều năm. Sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và thu nhập được gia tăng kéo theo những thay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân khiến họ khó tính hơn và phát sinh nhiều hơn những nhu cầu về cuộc sống. Để có thể đáp ứng những nhu cầu đó, họ cần được tiếp xúc với nhiều nguồn vốn hơn nữa.
Từ đó ta có thể thấy, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là một tác nhân hỗ trợ tích cực trong việc hỗ trợ thúc đẩy tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình và góp phần kích cầu cho nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển xã hội. Vai trò đối với nền kinh tế - xã hội Theo Lê Thị Mận (2010, trang 248, 249), khá nhiều yếu tố, nhân tố trong nền kinh tế chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại với hoạt động tín dụng nói chung và cho vay khách hàng cá nhân nói riêng. Đầu tiên, cho vay khách hàng cá nhân là đòn bẩy quan trọng kích thích việc sản xuất tăng trưởng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ hoạt động huy động vốn và cho vay của ngân hàng góp phần điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ đó hỗ trợ duy trì quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách thường xuyên liên tục.
Chính hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại là giải pháp cho nhu cầu của người dân, khả năng thanh toán được tăng lên, việc tiêu dùng sẽ trở nên kịp thời hơn, quá trình tiêu thụ hàng hóa diễn ra nhanh chóng, tiện lợi hơn và nhà sản xuất có đủ cơ sở, vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của xã hội. Về mặt xã hội, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tạo điều kiện cho các cá nhân tiếp cận gần hơn với nguồn vốn lớn của ngân hàng, hỗ trợ họ trong việc mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, trang thiết bị sinh hoạt, các dịch vụ về giáo dục, y tế. Từ đó thỏa mãn cả về nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của người dân, giảm thiểu sự phân hóa giữa giàu và nghèo.