CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý: Sông Ba là con sông lớn nhất vùng ven biển miền trung với diện tích lưu vực là 13. Vị trí địa lý của lưu vực ở vào khoảng 12055’ đến 14038’ vĩ độ Bắc và 108000’ đến 109055’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp với lưu vực sông Trà Khúc; phía Nam giáp với lưu vực sông Cái Ninh Hòa và sông Sê Rê Pốk; phía Đông giáp với lưu vực sông Kone, Kỳ Lộ; phía Tây giáp với lưu vực sông Sê San, Sê Rê Pốk.1) [4] Lưu vực sông Ba nằm trong phạm vi ranh giới hành chính của 20 huyện thị và 1 thành phố thuộc 3 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đaklak và một tỉnh duyên hải miền Trung Trung Bộ là Phú Yên. Trong đó có một huyện thuộc tỉnh Kon Tum là huyện KonPlong, 10 huyện thị thuộc tỉnh Gia Lai là: Kbang thị xã An Khê, Đakpơ, Konch Ro, ĐakĐoa, Mang Yang, Chư Sê, Ayun Pa, Krông Pa, EaPa, 4 huyện thuộc tỉnh Đak Lak là: Ea Hleo, Krông HNăng, Eakar, MađRăk và 5 huyện thuộc tỉnh Phú Yên là: Sơn Hoà, Sông Hinh, Phú Hoà, Tuy hoà, và thành phố Tuy Hoà.1: Phần trăm diện tích các tỉnh thuộc lưu vực sông Ba Diện tích % diện % diện theo đơn Diện tích tích so tích so với STT Tỉnh vị hành trong lưu với diện toàn lưu chính vực (km2) tích của lực (km2) tỉnh Lưu vực sông Ba 13.1: Bản đồ lưu vực sông Ba 1. Đặc điểm địa hình, địa mạo: Lưu vực sông Ba có thể chia thành các kiểu địa hình: Ở trung và thượng lưu chủ yếu là núi và cao nguyên. Khu vực hạ lưu có đồi núi thấp, thung lũng và đồng bằng bồi tụ ven biển.
[4] Địa hình lưu vực sông Ba khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ, núi cao bao bọc bởi 3 phía: Bắc, Đông, Nam và chỉ được mở rộng về phía Tây với cao nguyên Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk, Gia Lai, Măng Yang, Chư Sê và thông ra biển đông qua vùng đồng bằng Tuy Hòa. Đường chia nước (phân nước) là những đỉnh núi có độ cao từ 400 2 - 2000 m. Tả ngạn của lưu vực sông Ba hầu hết hầu hết là nhưng đỉnh núi cao từ 800 - 1000 m và đặc biệt có đỉnh núi Chư H’Mu cao tới 2051 m. [4] Phía Đông lưu vực là các đỉnh núi thuộc dãy Trường Sơn có độ cao từ 600– 1300 m Phía Nam là dãy núi Phượng Hoàng chạy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc rồi đâm ngang ra biển và kết thúc tại Đèo Cả có độ cao 600 – 700m.
Phía Tây có các đỉnh núi cao hơn phía Đông nhưng bị chia cắt nhiều và không liên tục như đỉnh Ngọc Rô (1509 m), Konkakinh (748 m), Kongquaboh (1710 m). [4] Vùng núi chiếm 62% diện tích tự nhiên của lưu vực cao độ biến đổi từ 600- 2000m được bao bọc ở cả 3 phía Bắc, Đông, Nam và có xu hướng mở rộng về phía Tây với các cao nguyên đất đỏ Bazan rất rộng là cao nguyên PleiKu, Mang Yang, Chư Sê với độ cao 600–800 m. Do các dãy núi phía Tây Nam của sông Ba bị chia cắt mạnh và không liên tục nên đã hình thành ở trung lưu một vùng máng trũng với các thung lũng độc lập kéo dài từ An Khê đến Phú Túc tương đối bằng phẳng là những cánh đồng lớn nằm dọc hai bên sông Ba và sông Ia Yun.Đặc điểm thổ nhưỡng, thực vật. Đặc điểm thổ nhưỡng Lưu vực sông Ba có nhiều loại đất khác nhau, thích hợp cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Địa tầng: tham gia vào cấu trúc lãnh thổ tỉnh Phú Yên có mặt khá đa dạng các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất và phun trào có tuổi từ Proterozoi đến Kanozoi, theo thứ tự từ già đến trẻ gồm các phân vị địa tầng sau: giới Proterozoi, Paleozoi, Merozoi, Kainozoi. [2] Mác ma xâm nhập: trong phạm vi tỉnh Phú Yên phát triển khá phong phú và đa dạng cả về không gian lẫn thời gian, chiếm trên 50% diện tích tự nhiên và có các phức hệ Bến Giằng- Quế Sơn, Vân Canh, Tây Ninh, Định Quán, Đèo Cả, Cà Ná- Pha 1, Phan Rang, Cù Mông. [2] Đặc điểm cấu trúc kiến tạo: hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc -Tây Nam, điển hình là đứt gãy Vĩnh Long - Trung Hòa. Hệ thống đứt gãy theo phương Tây Bắc - Đông Nam gồm nhiều đứt gãy quy mô nhỏ - vừa, điển hình là đứt gãy sông Ba, sông Kỳ Lộ.
Hệ thống đứt gãy theo phương á kinh tuyến là đứt gãy quy mô nhỏ -vừa, phát triển chủ yếu ở phía Bắc.2: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu vực sông Ba [4] Đất đai Phú Yên được hình thành trên mẫu đất phù sa và ba loại đá chính là: Granit, Ba Zan, trầm tích gồm 8 nhóm phổ biến.2) Đất cát ven biển: chiếm 2,6% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo bờ biển từ sông Cầu đến Hòa Hiệp và dọc sông Đà Rằng, Kỳ Lộ. Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém. [2] Đất mặn phèn: chiếm 1,4% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở Hòa Tâm, Hòa Hiệp, Hòa Xuân và dọc ven biển từ Sông Cầu đến cửa sông Đà Rằng. [2] 4 Đất phù sa: chiếm 9,8% diên tích tự nhiên, tập chung chủ yếu ở huyện Phú Hòa, huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa, rải rác ở Tuy An, Đồng Xuân, sông Cầu.[2] Đất xám: chiếm 6,9% diện tích tự nhiên được phân bố từ địa hình trung gian nơi tiếp giáp vùng núi và vùng thấp có địa hình chia cắt trung bình, tương đối bằng tập trung ở Sơn Hòa, Đồng Xuân, Sông Hinh và phía tây huyện Phú Hòa.[2] Đất đen: chiếm 3,5% diện tích, phân bố ở phía nam huyện Tuy An, xã Bình Kiến, huyện Sông Hinh và một phần huyện Sơn Hòa.
Đất đỏ vàng: chiếm 65% diện tích tự nhiên phân bố đều khắp ở vùng đồi núi. Đất mùn vàng đỏ chiếm 2,2% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên núi cao từ 900 - 1000m. Đất dốc tụ chiếm 0,3% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở địa hình thấp. Đặc điểm thực vật Vùng lưu vực sông Ba, dưới góc độ địa sinh vật được xem là vùng phân bố tự nhiên có độ đa dạng sinh học cao ở nước ta.
Do điều kiện địa hình hiểm trở, đặc biệt có dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2.000m là đầu nguồn của các hệ thống sông lớn ở vùng Trung Bộ như sông Vu Gia-Thu Bồn, sông Kone và sông Ba. Cùng với điều kiện địa hình, tính chất thổ nhưỡng và điều kiện khí hậu là điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật rừng ở đây phát triển phong phú.3) [3] Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu một cách tổng thể về hệ thực vật trên lưu vực sông Ba. Những số liệu trình bày trong báo cáo này là tổng hợp của các kết quả nghiên cứu lẻ tẻ của Viện STTNSV (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật) và những tài liệu đã công bố có liên quan. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thực vật vùng lưu vực sông Ba có ít nhất là 2000 loài thực vật bậc cao có mạch nằm trong 939 chi thuộc 204 họ thực vật thuộc 6 ngành thực vật bậc cao là Psilotophyta - Ngành Khuyết lá thông, Licopodiophyta - Ngành thông đất, Equisetophyta - Ngành Mộc tặc, Polypodiophyta - Ngành Dương xỉ, Pinophyta - Ngành Thông và Magnoliophyta - Ngành Mộc lan.3: Bản đồ hiện trạng thảm phủ thực vật lưu vực sông Ba [4] 6 Bảng 1.2: Các kiểu thảm thực vật rừng chính trong lưu vực sông Ba.
[3] Độ cao TT Kiểu thảm Nơi phân bố Đặc trưng cơ bản về thành phần loài phân bố Quần xã cây nước lợ cửa sông, ven biển ưu thế Sonneratia caseolaris, Bruguiera Thảm thực vật Cửa sông Cửa sông gymhorhize, B. parviflora, Acanthus 1 nước lợ cửa ven biển Đà Rằng ilicifolius, Cyperus malaensis, sông Ba Flagellaria indica, Derris trifoliata, Phoenix paludosa Chủ yếu là các chi thuộc các họ thực Quần xã thực Rải rác trong vật sau: Cyperaceae (Eleocharis, vật thuỷ sinh Địa hình vùng Cyperus); Poaceae (Panicum, 2 trong các thuỷ thấp tập trung ở hạ Hymerachne, Phragmites.); vực nước ngọt lưu Onagnaceae (Ludwigia); Alismataceae (Sagisttaria, Alisma);… Kbang, Mang Đặc trưng bởi các họ: Dipterocarpaceae Thảm thực vật Yang, sông (Dipterocarpus, Hopea, Shorea), rừng thường Hinh, Sơn 3 < 1.000 m Fabaceae (Dalbergia, Archidendron, xanh trên đất Hoà, Eekar, Adenanthera, Milletia); Clusiaceae thấp Krông Năng, (Garcinia), Burseraceae (Canarium),… Krông Par Rừng thường có 3 tầng cây gỗ. Các họ đặc trưng là Lauraceae (Alseodapne, Thảm thực vật Krông Pa, Beilshmiedia, Cinnamomum, Litsea), 1000 - 4 rừng kín thường Mang Yang, Fagaceae (Lithocarpus, Castanopsis, 1.600 m xanh núi thấp Kbang Quercus), Magnoliaceae (Michelia), Annonaceae (Polyalthia), Myrtaceae (Syzygium),. Rừng thường có 4- 5 tầng, các loài cây A yun Pa, chủ yếu là: Lagestroemia calyculata, Krông Pa, Crypteronia paniculata, Antheroporum Thảm thực vật sông Hinh, pierrei, Syzygium cuminii, Polyalthia 5 rừng nửa rụng < 1.000 m Sơn Hoà, Ea cerasoides, Xylopia vielana.
Ngoài ra lá trên đất thấp Kar, Krông còn gặp đại diện thuộc các họ Năng, Krông Combretaceae (Terminalia), Par Sterculiaceae (Pterospermum, Sterculia),… 7 Đặc trưng bởi tán thưa, độ tán che thấp, 0,5- 0,6, thường có 3 tầng. Các loài thực vật chủ yếu của loại rừng này A Yun Pa, thuộc họ Dipterocarpaceae Krông Pa, (Dipterocarpus tuberculatus, D. Thảm thực vật sông Hinh, obtusifolius, D. intricatus, 6 rừng rụng lá < 1.000 m Sơn Hoà, Ea Shoreaobtusa, Sh.
trên đất thấp Kar, Krông roxburghii),.Ngoài ra còn gặp đại diện Năng, Krông của các họ khác, như Hypericaceae Pa (Cratoxylum), Elaeocarpaceae (Elaeocarpus), Sterculaceae (Sterculia , Scaphium, Pterospermum), Myrtaceae (Syzygium), Apocynaceae (Alstonia). Rừng thường có 5 tầng, các loài ưu thế thuộc về các họ Fagaceae (Castanopsis, Thảm thực vật Lithocarpus, Quercus), Lauraceae rừng kín thường 7 > 1.600 m Kon Ka Kinh (Litsea, Machilus), Myrtaceae xanh núi trung (Syzygium), Ericaceae bình (Rhododendron), Magnoliaceae (Magnolia, Michelia),. Nguồn: Đỗ Hữu Thư, 2005 Trong các loài thực vật ở lưu vực sông Ba, tổng số loài thực vật quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) là 74 loài: 7 loài bậc E - Đang nguy cấp (đang bị de dọa tuyệt chủng), 19 loài bậc V - Sẽ nguy cấp (có thể bị đe dọa tuyệt chủng), 29 loài bậc R - Loài hiếm (có thể sẽ nguy cấp), 4 loài bậc T - Bị đe dọa, 15 loài bậc K - Biết không chính xác. Đặc điểm hệ thống mạng lưới sông, hồ: Lưu vực sông Ba có dạng chữ L, phình rộng ở trung lưu và thu hẹp ở hai đầu thượng và hạ lưu.
Mạng lưới sông ngòi khá dầy và được phân bố đều khắp trong vùng. Chiều rộng bình quân lưu vực 48,6km, có nơi rộng 80 km. Dòng chính sông Ba được bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Rô (tỉnh Kon Tum) cao 1.544m, sông chảy qua các tỉnh KonTum, Gia lai, ĐakLăk và Phú Yên.