Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA VÀ MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 1. Khái niệm về “mô hình” và các mô hình xã hội hóa truyền hình 1. Khái niệm về “mô hình” Mô hình thể hiện mối quan hệ có tính hệ thống giữa các nhân tố, thể hiện quy luật của hiện tượng sự vật dưới dạng đơn giản hoá như trong Từ điển tiếng Việt có ghi: “…mô hình là công cụ thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình… nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người”. Đặc điểm chung của tất cả các loại mô hình là không nhất thiết giống 100% cái nó cần thể hiện, miễn là nó thỏa mãn được yêu cầu cơ bản nhất của của những quy tắc, quy định chung.
Trong khoa học kinh tế có rất nhiều mô hình như: hàm sản xuất của Cobb- Douglas, mô hình quan hệ lạm phát-thất nghiệp của A.v… Phần lớn các mô hình ấy ngày nay chỉ có ý nghĩa lịch sử, không được sử dụng vì đã có các nghiên cứu khác thay thế, nhờ phản ánh đầy đủ hơn những nhân tố, những quan hệ mới nảy sinh từ cuộc sống đương đại. Ở luận văn này, tác giả lựa chọn “mô hình” xã hội hóa truyền hình của Đài VTC để khái quát thành một hiện tượng có các tiêu chí chung như tính sở hữu, sự tham gia đóng góp về tài chính, trí tuệ của phía đối tác trong các chương trình, kênh sóng kết hợp với các đài truyền hình… hai bên phối hợp với nhau để mang lại các giá trị chung là những chương trình có chất lượng, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khán giả. Từ đó, có thể đưa ra một khái niệm về “mô hình xã hội hóa truyền hình” như sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Mô hình xã hội hóa truyền hình là một dạng thức kết hợp giữa một bên là đài truyền hình và một bên là đối tác tư nhân hợp tác sản xuất để tạo nên sản phẩm có chất lượng tốt nhất phát sóng trên sóng của đài truyền hình. Vai trò và “liều lượng” tham gia của đài truyền hình và đối tác sẽ quyết định các dạng thức hợp tác”.
Các mô hình xã hội hóa truyền hình Bản chất xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là việc mở rộng các cách làm nên sản phẩm truyền hình. Căn cứ vào nội dung, mức độ, cách thức sản xuất có thể chia hoạt động XHH sản xuất chương trình thành hai hình thức như sau: (1) Hợp tác sản xuất; (2) Đặt hàng sản xuất. Hợp tác sản xuất chương trình: Đó là việc đài truyền hình và các đối tác “bắt tay” cùng khai thác sử dụng một cách hợp lý nguồn lực của mỗi bên (con người, phương tiện kỹ thuật, tài chính…) để tham gia vào quy trình sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình. Hợp tác sản xuất sẽ giúp các bên trong quá trình làm nên sản phẩm bổ sung, hỗ trợ những mặt đối tác chưa có khả năng hoặc chưa có điều kiện thực hiện.
Mặc khác, hợp tác cũng là cách khai thác tối đa nguồn lực của mỗi bên trong đóng góp làm nên sản phẩm chung phục vụ xã hội. Sản phẩm truyền hình là một loại hàng hóa đặc biệt, nó là sự kết tinh của tư duy, trí tuệ của đội ngũ những người làm chương trình trên cơ sở sử dụng trang thiết bị kỹ thuật để tái hiện hoặc phản ánh hiện thực xã hội mội cách nghệ thuật. Vậy nên, để làm ra sản phẩm trí tuệ mang tính đại chúng đòi hỏi những người thực hiện phải có kỹ năng, trình độ nghiệp vụ chuyên môn, hiểu biết xã hội, tài chính và phương tiện kỹ thuật đảm bảo cho ra những sản phẩm chất lượng. Trong hình thức hợp tác này, mỗi bên có thể tham gia đóng góp ở các lĩnh vực khác nhau với các mức độ khác nhau tùy theo khả năng.
Các lĩnh vực hợp tác: nội dung, phương tiện kỹ thuật và tài chính + Hợp tác sản xuất nội dung chương trình: + Đầu tư và khai thác phương tiện kỹ thuật sản xuất chương trình: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Cung cấp tài chính cho sản xuất chương trình Việc tiếp cận được nhiều nguồn tiền ở bên ngoài để phục vụ cho sự phát triển của truyền hình – thể hiện sự linh hoạt trong việc huy động các nguồn vốn của đài truyền hình. - Các mức độ hợp tác sản xuất chương trình gồm có: (1) hợp tác sản xuất một phần chương trình; (2) hợp tác sản xuất trọn vẹn một chương trình, (3) hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho một kênh truyền hình. + Hợp tác sản xuất một phần chương trình + Hợp tác sản xuất hoàn chỉnh một chương trình + Hợp tác sản xuất nhiều chương trình cho cả kênh truyền hình Sự phối hợp sản xuất chương trình cho một kênh truyền hình góp phần làm cho nội dung chương trình của các đài ngày càng phong phú, hấp dẫn điều này giúp cho khán giả có thể thỏa mái lựa chọn những chương trình mình yêu thích. Hình thức này của đối tác thể hiện sự năng động, sáng tạo, khả năng đáp ứng về nhiều mặt của công chúng nói chung, các công ty tổ chức truyền thông nói riêng.
Tuy nhiên, mỗi khi đài quyết định hình thức hợp tác này cần có kế hoạch quản lý cụ thể, khoa học để chương trình phong phú số lượng, đảm bảo chất lượng, hạn chế việc lạm dụng tài nguyên sóng quốc gia để làm lợi cá nhân. Đặt hàng sản xuất chương trình Nếu như hình thức hợp tác sản xuất thể hiện rõ ở việc các bên cùng “xắn táy” cùng làm một việc, mức độ chủ động, trách nhiệm của mỗi bên trong quá trình sản xuất ngang nhau, diễn ra liên tục, song hướng tới sự thống nhất nhằm tạo nên một chỉnh thể với những khớp nối hợp lý thì hình thức đặt hàng mức độ chủ động, trách nhiệm, cách thức triển khai công việc có nhiều điểm khác nhau. Ở Việt Nam, đặt hàng sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đang trở thành xu hướng phát triển trong vài năm trở lại đây. Chẳng hạn, toàn bộ các chương trình phát sóng mới trên kênh YanTV (SCTV2) là do Công ty Cổ phần Công nghệ và Tầm nhìn yêu âm nhạc sản xuất, Đài Truyền hình Việt Nam chỉ là người duyệt và xếp lịch phát sóng.
Tương tự, toàn bộ chương trình trên kênh 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TodayTV (VTC7) và kênh VITV (VTC8), Let’s Việt (VTC9) lần lượt là sản phẩm của các đơn vị như: Công ty CP Quốc tế IMC, Công ty CP Công nghệ và Truyền thông VITV và Công ty CP Lasta. Dù chỉ sản xuất thời lượng một vài giờ/ngày/kênh sóng đó, các đối tác cũng phải rót một khoản chi phí lớn khoảng 30- 40 tỷ/năm để chi từ máy móc, trang thiết bị đến chi phí bộ máy và các khoản phí sản xuất chương trình. Đây là bài toán kinh doanh phức tạp mà các đối tác luôn phải tính. Với Đài VTC, vừa kết hợp đặt hàng sản xuất và hợp tác sản xuất ở nhiều mức độ nên chúng tôi tổng kết thành 3 mô hình xã hội hóa đó là: - Xã hội hóa sản xuất kênh truyền hình - Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, giờ phát sóng, sự kiện….
- Xã hội hóa theo các hình thức khác Hiện tại, Đài VTC đang triển khai hình thức xã hội hóa theo ba mô hình này và sẽ được tập trung phân tích trong Chương II của luận văn. Khái niệm về xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình Theo Macionis John, XHH là “một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình”. Nói cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên. Những năm gần đây ở Việt Nam, thuật ngữ xã hội hóa thường được dùng để chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội như xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế.
(cho tư nhân đấu thầu những công trình, cơ sở của nhà nước, nhân dân và kinh phí qua sự thâu vé vào cửa các xa lộ, di tích, khu du lịch hay mua công khố phiếu,.), cách hiểu này khác với bản chất của xã hội hóa. Các nhà xã hội học thì cho rằng “Xã hội hóa là quá trình qua đó chúng ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội mà trong đó chúng ta đã được sinh ra mà nhờ nó chúng ta đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử, được coi là thích hợp trong xã hội của chúng ta [7, tr. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong kinh tế - chính trị học, XHH được hiểu là chuyển cái riêng thành cái chung, cái cá thể thành cái xã hội; XHH ruộng đất chuyển tư hữu thành công hữu; XHH (lao động) là quá trình từ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp tác có phân công, chuyên môn hóa trên phạm vi toàn xã hội. Theo từ điển tiếng Anh, “Socialize: act in a sociable manner” có nghĩa là làm một việc gì đó theo cách hòa đồng, hòa mình theo cách chung của xã hội hay “make social”: làm thành của chung, của tập thể hoặc “organize on socialistic principles”: tổ chức theo cách chung của xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt, XHH là “Làm cho trở thành của chung của xã hội”. Ở nước ta, cụm từ “xã hội hóa” xuất hiện khoảng cuối thập niên 90 của thế kỷ trước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến và thịnh hành trong xã hội hiện nay. Có thể hiểu XHH là huy động nguồn lực xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà trước kia chỉ có các đơn vị nhà nước tham gia. XHH theo cách hiểu thuật ngữ thị trường là tư nhân tham gia vào một số lĩnh vực thuộc nhà nước quản lý để huy động tiềm năng, chất xám và khả năng của họ, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, phục vụ cộng đồng, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh.