Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phùng Mạnh Trường với đề tài "Xây dựng mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý của doanh nghiệp Việt Nam dựa trên các tiêu chí Giải thưởng chất lượng quốc gia Hoa Kỳ" được thực hiện tại Trường Đại học Thương mại, chuyên ngành Kinh doanh thương mại (mã số: 62340121), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Thị Ngọc và TS. Nguyễn Hóa, bảo vệ năm 2021.
Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ thực tiễn áp dụng các hệ thống quản lý (như ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000, ISO 50001, TQM, HACCP, GMP) và các công cụ cải tiến năng suất chất lượng (5S, Kaizen, 7 công cụ thống kê, BSC, Six Sigma) tại các doanh nghiệp. Trên thế giới, các Mô hình hoạt động xuất sắc (Business Excellence Model - BEM) hay Giải thưởng chất lượng (GTCL) như Giải thưởng Deming, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ (Giải thưởng Baldrige), Giải thưởng Chất lượng Châu Âu (EQA/EFQM), Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương (GPEA) được sử dụng với ba mục đích: (1) Cung cấp công cụ tự đánh giá (self-assessment) cho doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống quản lý; (2) Tôn vinh các tổ chức có thành tích xuất sắc; (3) Thúc đẩy phong trào năng suất và chất lượng.
Tại Việt Nam, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (GTCLQG) được thiết lập từ năm 1995 (triển khai từ năm 1996) trên cơ sở chấp nhận 7 tiêu chí của Giải thưởng Baldrige. Tuy nhiên, qua 25 năm triển khai (1996 - 2020), hoạt động này chủ yếu tập trung vào mục tiêu tôn vinh, khen thưởng và tuyên truyền phong trào, trong khi mục tiêu cung cấp công cụ tự đánh giá cho doanh nghiệp chưa được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động. Đa số doanh nghiệp chỉ tiếp cận giải thưởng nhằm mục đích đạt giải, chưa chủ động sử dụng bộ tiêu chí để tự soi chiếu và cải tiến liên tục.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Chưa có công trình khoa học nào tại Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống, hoàn chỉnh về việc xây dựng và triển khai mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí GTCL Baldrige phù hợp với trình độ quản lý, nhận thức và điều kiện thực tế của doanh nghiệp Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Đề xuất xây dựng mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige phù hợp với điều kiện, trình độ nhận thức và quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam nhằm hỗ trợ nhận diện toàn diện, có hệ thống các điểm mạnh và cơ hội cải tiến hệ thống quản lý.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Cung cấp bức tranh tổng thể về thực tiễn triển khai mô hình hoạt động xuất sắc, GTCL và tự đánh giá trên thế giới và tại Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2020.
- Làm rõ cơ sở lý luận về tự đánh giá và mô hình tự đánh giá trong doanh nghiệp, từ đó thiết kế mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng tự đánh giá của các doanh nghiệp đạt GTCLQG giai đoạn 1996 - 2020 và kết quả áp dụng thí điểm tại một số doanh nghiệp đạt giải năm 2019 - 2020.
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy áp dụng mô hình và các kiến nghị đối với cơ quan quản lý, tổ chức triển khai GTCLQG.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Xây dựng Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige như thế nào cho phù hợp với việc áp dụng của các doanh nghiệp Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý một cách toàn diện thông qua việc nhận diện rõ các điểm mạnh và cơ hội cải tiến như thế nào?
- Câu hỏi 3: Làm thế nào để tăng cường việc áp dụng mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige cho các doanh nghiệp Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu chính: Tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý một cách toàn diện thông qua việc nhận diện rõ các điểm mạnh và cơ hội cải tiến.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý của doanh nghiệp dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige.
- Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp đạt GTCLQG của Việt Nam đã áp dụng ít nhất một hệ thống quản lý, đồng thời tiếp cận và áp dụng mô hình tự đánh giá dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige.
- Phạm vi nội dung: Xây dựng mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên 7 tiêu chí Giải thưởng Baldrige, nhận diện điểm mạnh và cơ hội cải tiến.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế đã tham gia và đạt GTCLQG (không bao gồm cơ quan hành chính công, tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức giáo dục và y tế do cơ chế GTCLQG tại thời điểm nghiên cứu chưa áp dụng cho các khối này).
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu hoạt động GTCLQG giai đoạn 1996 - 2020; khảo sát 200 doanh nghiệp đạt giải giai đoạn 1996 - 2016; áp dụng thử nghiệm tại 85 doanh nghiệp đạt giải năm 2019 - 2020 và 2 doanh nghiệp điển hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng hợp và phân tích 50 công trình tiêu biểu trên thế giới và các công trình trong nước liên quan đến GTCL, mô hình hoạt động xuất sắc (BEM) và tự đánh giá:
Các công trình nghiên cứu quốc tế:
- Ritchie L. (2000-1) thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc tại 10 tổ chức áp dụng mô hình EFQM Excellence Model, chỉ ra vai trò của tự đánh giá trong việc hoạch định chiến lược và đo lường hiệu quả quản lý thường xuyên.
- Ton Van Der Wiele và cộng sự (2000) khảo sát thực tiễn tự đánh giá tại các doanh nghiệp Hoa Kỳ, chứng minh tự đánh giá theo tiêu chí GTCL tạo tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động và chất lượng quản trị.
- Dự án nghiên cứu của Cơ quan Năng suất và Tiêu chuẩn Singapore (SPRING) do Robin Mann (2011) làm đầu mối, chỉ định bởi Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), khảo sát 74 doanh nghiệp đạt GTCL tại 5 quốc gia và vùng lãnh thổ (Đài Loan, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan) giai đoạn 2009 - 2010.
- Các nghiên cứu của Dahlgaard (1999), Porter và Tanner (2004), Van der Wiele, Dale và Williams (1997), Shergold và Reed (1996), Gadd (1995), Lascelles và Peacock (1996), Benavent, Ros và Moreno-Luzon (2005), Teo và Dale (1997) phân tích các yếu tố ảnh hưởng như sự cam kết của lãnh đạo, năng lực chuyên gia đánh giá và văn hóa tham gia của nhân viên.
- Thống kê của ISO (2021-2) ghi nhận toàn cầu có 95 giải thưởng chất lượng tại 83 quốc gia (Châu Âu: 40 giải/34 nước; Châu Á: 33 giải/27 nước; Châu Mỹ: 15 giải/15 nước; Châu Phi: 4 giải/4 nước; Châu Đại Dương: 3 giải/3 nước).
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoàng Liên (2010) tại Đại học Northumbria (Anh) nghiên cứu mô hình tự đánh giá dựa trên mô hình EFQM tại hai doanh nghiệp dệt may Việt Nam (Tổng Công ty Phong Phú và Công ty CP May 10). Tác giả Phùng Mạnh Trường chỉ ra rằng mô hình EFQM tiếp cận theo TQM rất khó nhân rộng cho đa số doanh nghiệp Việt Nam vốn có trình độ quản lý chất lượng nền tảng theo tiêu chuẩn ISO 9001; đồng thời hai doanh nghiệp được chọn là các đơn vị đầu ngành may mặc xuất khẩu, chưa đại diện cho mặt bằng chung.
- Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Ngọc (2000) tại Trường Đại học Thương mại khảo cứu các mô hình quản lý chất lượng (Deming, Baldrige, EQA, GTCL Việt Nam) nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát cơ chế giải thưởng, chưa đi sâu vào công cụ tự đánh giá.
- Luận văn thạc sĩ của Phùng Mạnh Trường (2006) đề cập một số khía cạnh về bản chất, mục đích tự đánh giá khi tham gia GTCL nhưng chưa xây dựng mô hình và lộ trình triển khai chi tiết.
- Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chủ trì (năm 2008, 2009, 2010, 2013) tập trung vào luận chứng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nghị định, triển khai lĩnh vực đặc thù và tài liệu hướng dẫn chấm giải, chưa nghiên cứu mô hình tự đánh giá như một công cụ cải tiến nội bộ độc lập.
Khoảng trống luận án giải quyết: Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn để thiết kế một mô hình tự đánh giá hoàn chỉnh dựa trên 7 tiêu chí Giải thưởng Baldrige tương thích với cơ cấu GTCLQG Việt Nam; lượng hóa các tiêu chí bằng bộ công cụ biểu mẫu câu hỏi; xây dựng quy trình tích hợp vào chu trình PDCA và xác định lộ trình áp dụng khả thi cho doanh nghiệp Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Khái niệm cốt lõi: Hệ thống quản lý (HTQL), Hiệu quả hệ thống quản lý, Tự đánh giá (Self-assessment), Mô hình hoạt động xuất sắc (Business Excellence Model - BEM), Quản lý chất lượng toàn diện (TQM), Chu trình cải tiến PDCA (Plan - Do - Check - Act).
- Chuẩn mực đánh giá: Cấu trúc 7 tiêu chí của Giải thưởng Baldrige với tổng điểm 1000 điểm, chia thành 2 nhóm:
- Nhóm Quá trình (Tiêu chí 1 đến 6, gồm 12 hạng mục, tổng 550 điểm): Tiêu chí 1 - Vai trò của lãnh đạo (120 điểm); Tiêu chí 2 - Chiến lược hoạt động (85 điểm); Tiêu chí 3 - Định hướng vào khách hàng và thị trường (85 điểm); Tiêu chí 4 - Đo lường, phân tích và quản lý tri thức (90 điểm); Tiêu chí 5 - Quản lý nguồn nhân lực (85 điểm); Tiêu chí 6 - Quản lý quá trình hoạt động (85 điểm).
- Nhóm Kết quả (Tiêu chí 7, gồm 6 hạng mục, tổng 450 điểm): Kết quả về sản phẩm (100 điểm), Kết quả định hướng vào khách hàng (70 điểm), Kết quả tài chính và thị trường (70 điểm), Kết quả định hướng vào lực lượng lao động (70 điểm), Kết quả hiệu quả quá trình hoạt động (70 điểm), Kết quả vai trò lãnh đạo (70 điểm).
- Mối quan hệ ISO 9001 và Giải thưởng Baldrige: Tiêu chuẩn ISO 9001 đánh giá sự tuân thủ (đạt/không đạt), trong khi Giải thưởng Baldrige và mô hình tự đánh giá đo lường mức độ trưởng thành theo thang điểm, tích hợp quản lý toàn diện các mặt hoạt động.
| Tiêu chí Giải thưởng Baldrige |
Hạng mục cấu thành |
Điểm tối đa |
Trọng số (%) |
| Tiêu chí 1: Vai trò của lãnh đạo |
1.1 Lãnh đạo cao nhất (70đ) 1.2 Điều hành và trách nhiệm xã hội (50đ) |
120 |
12,0% |
| Tiêu chí 2: Chiến lược hoạt động |
2.1 Xây dựng chiến lược (40đ) 2.2 Triển khai chiến lược (45đ) |
85 |
8,5% |
| Tiêu chí 3: Định hướng vào khách hàng và thị trường |
3.1 Gắn bó với khách hàng (40đ) 3.2 Lắng nghe khách hàng (45đ) |
85 |
8,5% |
| Tiêu chí 4: Đo lường, phân tích và quản lý tri thức |
4.1 Đo lường, phân tích và cải tiến (45đ) 4.2 Quản lý thông tin, tri thức và CNTT (45đ) |
90 |
9,0% |
| Tiêu chí 5: Quản lý nguồn nhân lực |
5.1 Môi trường làm việc (40đ) 5.2 Gắn kết lực lượng lao động (45đ) |
85 |
8,5% |
| Tiêu chí 6: Quản lý quá trình hoạt động |
6.1 Hệ thống làm việc (35đ) 6.2 Các quá trình làm việc (50đ) |
85 |
8,5% |
| Tiêu chí 7: Kết quả hoạt động |
7.1 Kết quả sản phẩm (100đ) 7.2 Kết quả định hướng khách hàng (70đ) 7.3 Kết quả tài chính và thị trường (70đ) 7.4 Kết quả nhân lực (70đ) 7.5 Kết quả hiệu quả quá trình (70đ) 7.6 Kết quả vai trò lãnh đạo (70đ) |
450 |
45,0% |
| Tổng cộng |
18 hạng mục |
1000 |
100% |
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp báo cáo tổng kết GTCLQG giai đoạn 1995 - 2020; hồ sơ đánh giá của Hội đồng Quốc gia GTCLQG; dữ liệu tiêu chuẩn từ ISO, NIST, EFQM, APO, APQO.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Điều tra thực trạng qua bảng hỏi gồm 39 câu hỏi gửi tới 200 doanh nghiệp đạt GTCLQG giai đoạn 1996 - 2016.
- Khảo sát áp dụng thử nghiệm Biểu mẫu SA-Baldrige gồm 184 câu hỏi (Phần 1: 14 câu thông tin chung; Phần 2: 170 câu hỏi tự đánh giá phân bổ theo 7 tiêu chí) tại 85 doanh nghiệp đạt giải năm 2019 - 2020.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case Study): Đánh giá sâu tại 2 doanh nghiệp điển hình đạt giải là Công ty Cổ phần Địa ốc - Cáp điện Thịnh Phát (doanh nghiệp sản xuất) và Công ty Cổ phần Kizuna JV (doanh nghiệp dịch vụ hạ tầng khu nhà xưởng dịch vụ).
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, ban điều hành hệ thống quản lý và chuyên gia quản lý chất lượng tại 2 doanh nghiệp nghiên cứu tình huống.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Thống kê mô tả, phân tích so sánh, diễn dịch và quy nạp, ứng dụng phần mềm SPSS.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và thiết kế mô hình nghiên cứu của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về mô hình BEM, GTCL và tự đánh giá trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sự hình thành của Giải thưởng Baldrige từ Luật Công pháp Hoa Kỳ số 100-107 (năm 1987) và sự phát triển của hơn 90 giải thưởng chất lượng trên thế giới. Tại Việt Nam, GTCLQG thành lập năm 1995 theo Quyết định số 1352/QĐ-TĐC của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Chương này chỉ ra khoảng trống về việc thiếu vắng mô hình tự đánh giá hiệu quả HTQL dành cho doanh nghiệp nội địa và thiết kế quy trình nghiên cứu 4 giai đoạn: (1) Thiết kế mô hình nghiên cứu; (2) Thực nghiệm điều tra, khảo sát và phỏng vấn; (3) Phân tích dữ liệu và thảo luận; (4) Kết luận và kiến nghị.
Chương 2: Một số lý luận cơ bản và nghiên cứu đề xuất mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ
Chương 2 làm rõ các khái niệm về HTQL, hiệu quả HTQL và tự đánh giá. Tác giả phân tích 4 nhóm lợi ích mà tự đánh giá mang lại: Kết quả kinh doanh, Văn hóa doanh nghiệp, Quản lý quá trình và cải tiến liên tục, Chuẩn so sánh (Benchmarking). Chương này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai, gồm nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức và cam kết của lãnh đạo cao nhất; năng lực, kinh nghiệm và thái độ của chuyên gia đánh giá; sự tham gia của người lao động) và nhóm yếu tố khách quan.
Từ nền tảng lý luận, tác giả đề xuất Mô hình tự đánh giá mẫu cho doanh nghiệp Việt Nam gồm các yếu tố cấu thành:
- Chuẩn mực đánh giá: 7 tiêu chí Giải thưởng Baldrige (1000 điểm).
- Công cụ thu thập dữ liệu: Biểu mẫu SA-Baldrige (184 câu hỏi chi tiết).
- Cách tiếp cận đánh giá: Tích hợp đánh giá quá trình (Tiếp cận - Triển khai - Học hỏi - Tích hợp) và đánh giá kết quả (Mức độ - Xu hướng - So sánh - Tích hợp).
- Quy trình tự đánh giá: Tích hợp chặt chẽ vào Chu trình cải tiến PDCA.
- Lộ trình áp dụng: Gồm 4 giai đoạn (Chuẩn bị và cam kết; Lập kế hoạch và đào tạo; Thực hiện tự đánh giá và chấm điểm; Xây dựng và thực thi kế hoạch cải tiến).
Chương 3: Thực trạng mô hình tự đánh giá và kết quả áp dụng thí điểm mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ tại các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3 tổng kết thực tiễn 25 năm GTCLQG (1996 - 2020) với 2.030 lượt doanh nghiệp đạt giải, 280 lượt Giải Vàng và 50 lượt giải GPEA. Khảo sát 200 doanh nghiệp (1996 - 2016) cho thấy đa phần doanh nghiệp không duy trì tự đánh giá định kỳ sau khi nhận giải do thiếu công cụ chuyên biệt và thiếu cam kết duy trì.
Kết quả áp dụng thí điểm Biểu mẫu SA-Baldrige tại 85 doanh nghiệp đạt giải năm 2019 - 2020:
- Điểm trung bình của 85 doanh nghiệp đạt 672,8/1000 điểm (tương đương 67,28%).
- Nhóm Quá trình (Tiêu chí 1-6): Tiêu chí 1 (Vai trò lãnh đạo) đạt điểm phần trăm trung bình cao nhất (73,5%), tiếp theo là Tiêu chí 3 (Khách hàng - 71,2%) và Tiêu chí 2 (Chiến lược - 69,8%). Tiêu chí 4 (Đo lường, phân tích và quản lý tri thức) đạt tỷ lệ thấp nhất (61,4%).
- Nhóm Kết quả (Tiêu chí 7): Đạt trung bình 65,1% điểm tối đa, trong đó điểm về chuẩn so sánh đối thủ cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
| Nhóm loại hình doanh nghiệp tham gia khảo sát (N=85) |
Điểm trung bình đạt được (trên 1000 điểm) |
Tỷ lệ % điểm trung bình |
| Doanh nghiệp Sản xuất lớn |
724,5 |
72,45% |
| Doanh nghiệp Sản xuất vừa và nhỏ |
651,2 |
65,12% |
| Doanh nghiệp Dịch vụ lớn |
688,4 |
68,84% |
| Doanh nghiệp Dịch vụ vừa và nhỏ |
626,3 |
62,63% |
| Nhóm đạt Giải Vàng Chất lượng Quốc gia |
815,6 |
81,56% |
| Nhóm đạt Giải thưởng Chất lượng Quốc gia (Giải Bạc) |
638,4 |
63,84% |
Nghiên cứu tình huống tại 2 doanh nghiệp điển hình:
- Công ty Cổ phần Địa ốc - Cáp điện Thịnh Phát: So sánh kết quả đánh giá năm 2017 (685 điểm) và năm 2020 (820 điểm). Tự đánh giá giúp công ty nhận diện điểm nghẽn trong quản lý thiết bị, giảm tỷ lệ sản phẩm không phù hợp từ 1,8% (năm 2012) xuống dưới 0,6% (năm 2020), nâng cao doanh số cạnh tranh trực tiếp với LS Cable và CADIVI.
- Công ty Cổ phần Kizuna JV: Đánh giá hệ sinh thái nhà xưởng dịch vụ; xây dựng bản đồ chiến lược 2018 - 2022; tỷ lệ lấp đầy nhà xưởng đạt mức cao (95% - 100% giai đoạn 2016 - 2018); chỉ số hài lòng của người lao động đạt 91,5% năm 2018; xác lập đường giá trị cạnh tranh vượt trội về dịch vụ hỗ trợ pháp lý và tiện ích chia sẻ.
Chương này chỉ ra hạn chế: Doanh nghiệp Việt Nam còn yếu ở khâu quản lý tri thức (Tiêu chí 4), thiếu dữ liệu đối sánh ngành (Benchmarking), tâm lý ngại đánh giá và thiếu đội ngũ chuyên gia tự đánh giá nội bộ có năng lực chuyên sâu.
Chương 4: Giải pháp thúc đẩy áp dụng mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Chất lượng Quốc gia Hoa Kỳ cho các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đồng bộ:
- Các giải pháp từ phía doanh nghiệp:
- Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ chuyên gia đánh giá nội bộ; nâng cao nhận thức của lãnh đạo cao nhất; xây dựng cơ chế khen thưởng và khuyến khích nhân viên tham gia.
- Nhóm giải pháp về tiêu chí: Chuẩn hóa việc thu thập và phân tích dữ liệu theo 7 tiêu chí; ứng dụng Biểu mẫu SA-Baldrige; lượng hóa các chỉ số đo lường kết quả (Tiêu chí 7).
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: Lồng ghép quy trình tự đánh giá vào chu trình PDCA; tích hợp dữ liệu tự đánh giá vào kỳ họp xem xét của lãnh đạo theo ISO 9001.
- Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng):
- Xây dựng chương trình quốc gia thúc đẩy hoạt động tự đánh giá hiệu quả HTQL.
- Ban hành bộ tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ và số hóa Biểu mẫu SA-Baldrige thành phần mềm trực tuyến hỗ trợ doanh nghiệp.
- Đào tạo, cấp chứng chỉ chuyên gia tự đánh giá và phát triển mạng lưới tổ chức tư vấn hỗ trợ kỹ thuật tại các địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý dựa trên các tiêu chí Giải thưởng Baldrige trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển.
- Đưa ra khái niệm mô hình tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý phù hợp với thực tiễn doanh nghiệp Việt Nam.
- Thiết kế hoàn chỉnh Mô hình tự đánh giá mẫu dựa trên 7 tiêu chí Giải thưởng Baldrige, xác lập cơ cấu các yếu tố cấu thành và lộ trình áp dụng 4 giai đoạn.
- Tích hợp thành công quy trình tự đánh giá vào Chu trình cải tiến PDCA (Vòng tròn Deming), tạo sự gắn kết tự nhiên giữa tự đánh giá với các hệ thống quản lý chất lượng hiện hành (ISO 9001).
- Xác định khung các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai mô hình tự đánh giá tại doanh nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng 25 năm hoạt động GTCLQG tại Việt Nam (1996 - 2020), chỉ rõ nguyên nhân khiến doanh nghiệp chưa mặn mà với việc duy trì tự đánh giá sau khi đạt giải.
- Xây dựng bộ công cụ thực nghiệm Biểu mẫu SA-Baldrige gồm 184 câu hỏi chi tiết, giúp lượng hóa các yêu cầu phức tạp của Giải thưởng Baldrige thành các câu hỏi khảo sát dễ tiếp cận cho doanh nghiệp.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng từ cuộc khảo sát 200 doanh nghiệp đạt giải giai đoạn 1996 - 2016 và 85 doanh nghiệp đạt giải giai đoạn 2019 - 2020.
- Đúc kết bài học thực hành thông qua 2 nghiên cứu tình huống điển hình tại Công ty Thịnh Phát và Công ty Kizuna JV.
- Đề xuất các nhóm giải pháp khả thi cho doanh nghiệp và các kiến nghị chính sách cụ thể cho Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Đối tượng khảo sát thực nghiệm bị giới hạn ở các doanh nghiệp đã tham gia và đạt GTCLQG thuộc khối sản xuất và dịch vụ; chưa bao quát các tổ chức thuộc khu vực hành chính công, đơn vị sự nghiệp y tế và giáo dục do phạm vi giải thưởng tại thời điểm nghiên cứu chưa mở rộng cho các đối tượng này.
- Dữ liệu thu thập từ doanh nghiệp qua biểu mẫu tự đánh giá phụ thuộc một phần vào tính trung thực, mức độ cởi mở và bảo mật thông tin nội bộ của các đơn vị được khảo sát.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu mở rộng và điều chỉnh mô hình tự đánh giá cho khu vực hành chính công, các cơ sở giáo dục đại học và bệnh viện/cơ sở y tế tại Việt Nam.
- Nghiên cứu phát triển phần mềm, nền tảng số hóa tự đánh giá trực tuyến tích hợp trí tuệ nhân tạo để tự động hóa việc chấm điểm và gợi ý các hành động cải tiến.
- Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal studies) nhằm đánh giá định lượng tác động dài hạn của việc duy trì mô hình tự đánh giá định kỳ đến hiệu quả tài chính và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho các đối tượng sau:
- Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp: Cung cấp khung chuẩn đối sánh (Benchmarking), quy trình 4 giai đoạn và bộ công cụ Biểu mẫu SA-Baldrige (184 câu hỏi) để tự rà soát, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu và xây dựng kế hoạch cải tiến hệ thống quản lý.
- Nghiên cứu sinh, giảng viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh thương mại, Quản lý chất lượng: Nguồn tài liệu tham khảo về lý thuyết mô hình hoạt động xuất sắc (BEM), Giải thưởng Baldrige, EFQM, TQM và mối tương quan giữa tiêu chuẩn ISO 9001 với các tiêu chí giải thưởng chất lượng.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Chi cục TCĐLCL các địa phương): Cung cấp luận cứ thực tiễn để đổi mới phương thức tổ chức GTCLQG, chuyển trọng tâm từ việc thuần túy xét tặng giải thưởng sang hỗ trợ kỹ thuật và phổ biến công cụ tự đánh giá rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc 7 tiêu chí của Giải thưởng Baldrige được phân bổ điểm số như thế nào trong luận án?
Giải thưởng Baldrige có tổng điểm tối đa là 1000 điểm, chia thành 18 hạng mục thuộc 2 nhóm: Nhóm Quá trình (550 điểm) gồm Tiêu chí 1 - Lãnh đạo (120 điểm), Tiêu chí 2 - Chiến lược (85 điểm), Tiêu chí 3 - Khách hàng (85 điểm), Tiêu chí 4 - Đo lường, phân tích và tri thức (90 điểm), Tiêu chí 5 - Nhân lực (85 điểm), Tiêu chí 6 - Quá trình (85 điểm); và Nhóm Kết quả (450 điểm) gồm Tiêu chí 7 - Kết quả hoạt động (450 điểm) bao quát kết quả sản phẩm, khách hàng, tài chính, nhân lực, hiệu quả vận hành và vai trò lãnh đạo.
2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa hệ thống quản lý ISO 9001 và mô hình tự đánh giá theo Giải thưởng Baldrige là gì?
Tiêu chuẩn ISO 9001 tập trung vào tính tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu tối thiểu (đạt hoặc không đạt) để được cấp chứng chỉ. Ngược lại, mô hình tự đánh giá theo Giải thưởng Baldrige là công cụ tự nguyện, không cấp chứng chỉ, đo lường mức độ trưởng thành và hoàn thiện của tổ chức thông qua thang điểm định lượng (từ 0 đến 1000 điểm), thúc đẩy văn hóa cải tiến liên tục và chuẩn đối sánh (Benchmarking).
3. Kết quả khảo sát 85 doanh nghiệp đạt giải năm 2019 - 2020 bằng Biểu mẫu SA-Baldrige phản ánh điểm yếu nào lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam?
Trong nhóm các tiêu chí quá trình, Tiêu chí 4 (Đo lường, phân tích và quản lý tri thức) đạt tỷ lệ điểm trung bình thấp nhất (61,4%). Các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn nhiều nhất trong việc quản lý tài sản tri thức, bảo mật dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và thiếu hụt nguồn dữ liệu đối sánh với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành.
4. Hai doanh nghiệp điển hình được nghiên cứu tình huống trong luận án là đơn vị nào và thuộc lĩnh vực gì?
Hai doanh nghiệp là: (1) Công ty Cổ phần Địa ốc - Cáp điện Thịnh Phát, đại diện cho khối doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; (2) Công ty Cổ phần Kizuna JV, đại diện cho khối doanh nghiệp dịch vụ với mô hình cung cấp hạ tầng khu nhà xưởng dịch vụ xây sẵn.
5. Luận án đề xuất tích hợp quy trình tự đánh giá vào chu trình quản trị nào?
Tác giả đề xuất tích hợp quy trình tự đánh giá trực tiếp vào Chu trình cải tiến PDCA (Plan - Do - Check - Act / Vòng tròn Deming). Trong đó, tự đánh giá đóng vai trò là công cụ kiểm tra, đo lường (Check) toàn diện, làm căn cứ đầu vào cho việc hoạch định chiến lược (Plan), triển khai hành động khắc phục (Do) và cải tiến chuẩn hóa (Act).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phùng Mạnh Trường đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc ứng dụng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia như một công cụ tự đánh giá hiệu quả hệ thống quản lý tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên tập mẫu 200 doanh nghiệp (1996 - 2016), 85 doanh nghiệp (2019 - 2020) và 2 nghiên cứu tình huống điển hình, luận án đã xây dựng thành công Mô hình tự đánh giá mẫu dựa trên 7 tiêu chí Giải thưởng Baldrige cùng bộ công cụ Biểu mẫu SA-Baldrige 184 câu hỏi. Công trình cung cấp hệ thống giải pháp thực tiễn cho doanh nghiệp và kiến nghị chính sách quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.