CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỀN THÔNG BĐKH 1. Biến đổi khí hậu toàn cầu và biến đổi khí hậu tại Việt Nam 1. Biến đổi khí hậu toàn cầu Khí hậu là trạng thái khí quyển ở một địa điểm, được đặc trưng bởi các trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió. Khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và nó thường có tính chất ổn định, ít thay đổi.
Trong lịch sử địa chất của trái đất, biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng. Xét về nguyên nhân gây nên sự biến đổi khí hậu, ta có thể thấy đó là do sự tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, nhiệt độ sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển.[16] Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn của con người, trong thời kỳ lịch sử, các hoạt động của con người làm thay đổi các thành phần của khí quyển, trong đó các khí nhà kính tăng lên làm tăng hiệu ứng nhà kính. Có thể hiểu sơ lược là nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa hấp thụ năng lượng mặt trời và lượng nhiệt trả vào vũ trụ.
Khi lượng nhiệt bị giữ lại nhiều trong bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Lượng khí CO2 chứa nhiều trong khí quyển hấp thụ lượng nhiệt phát xạ từ bề mặt trái đất rồi tỏa ngược lại mặt đất. Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung là khí nhà kính như NOx, CH4, CFC. Với những gia tăng mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch (dầu mỏ, than đá.), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990 đến 2100, kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người.
[16] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khí hậu đã biến đổi trong suốt lịch sử hình thành phát triển của địa cầu. Sự BĐKH toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, băng tan, nước biển dâng cao; các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm… * Nồng độ CO2 [15] CO2 là loại khí nhà kính chủ yếu khiến toàn cầu nóng lên. Nồng độ CO2 trong khí quyển không ngừng gia tăng chủ yếu là do con người đốt nhiên liệu hóa thạch, nguồn thải công nghiệp.
Theo các nghiên cứu đã được công bố của NASA, lượng khí CO2 toàn cầu đã tăng cao nhất trong 650.000 năm trở lại đây.1 cho thấy nồng độ CO2 (tỷ lệ phần triệu) trong khí quyển trong những năm gần đây cho đến cuối năm 2014.2 cho thấy nồng độ CO2 trong ba chu kỳ băng hà cuối cùng và so với mức hiện tại. Cả hai biểu đồ đều phản ánh rõ nét sự gia tăng nhanh chóng và liên tục của nồng độ khí CO2.1: Nồng độ khí CO2 đo trực tiếp trong khí quyển giai đoạn 2005 – 2014 Nguồn: Theo Cơ quan Hải dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (NOAA) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Nồng độ CO2 đo lường gián tiếp qua các giai đoạn phát triển của trái đất đến nay Nguồn: Cơ quan Hải dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (NOAA) Theo Cơ quan Hải dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (NOAA), nồng độ CO2 trung bình hàng tháng trên toàn cầu đạt mức kỷ lục, điều chưa từng xảy ra trong hai triệu năm gần đây, vượt 400 phần triệu (ppm) vào tháng 3/2015. Tốc độ tăng nồng độ CO2 trung bình trong khí quyển giai đoạn năm 2012-2014 là 2,25 ppm mỗi năm. * Nhiệt độ trái đất [15] Theo báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), nhiệt độ trung bình của Trái đất cuối thế kỉ 19 đã tăng +0,8 °C và thế kỉ 20 tăng 0,6 ± 0,2 °C.
Các dự án mô hình khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) chỉ ra nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4 °C trong suốt thế kỷ 21. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) nghiên cứu sự gia tăng nồng độ khí nhà kính được sinh ra từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên từ giữa thế kỷ 20. IPCC cũng nghiên cứu sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa gây ra phần lớn hiện tượng ấm lên từ giai đoạn tiền công nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau đó. Các kết luận cơ bản đã được 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chứng thực bởi hơn 45 tổ chức khoa học và viện hàn lâm khoa học trên thế giới, bao gồm tất cả các viện hàn lâm của các nước công nghiệp hàng đầu.
NASA đã từng ghi nhận năm 2014 là năm có nhiệt độ trung bình cao nhất trong lịch sử loài người. Tuy nhiên các nhà khoa học xác nhận rằng nửa đầu năm 2015 đã cho thấy dấu hiệu nhiệt độ tăng cao kỷ lục. Theo báo cáo được công bố của Climate.gov, tháng 6 năm 2015 là thời điểm nóng nhất kể từ khi các dữ liệu này được thu thập từ năm 1880 đến nay. Cũng theo dữ liệu về nhiệt độ trên thế giới của Cục quản lý đại dương và khí quyển NOAA, tháng 6 năm 2015 là tháng nóng nhất, cao hơn khoảng 1,6 độ F (khoảng 0,9 độ C) so với nhiệt độ trung bình của các tháng 6 trong thế kỷ 20.
* Mực nước biển [15] Ngoài ra, cũng theo công bố của NASA, mực nước biển toàn cầu đã tăng khoảng 17cm (6,7inch) trong thế kỷ qua, gần như gấp đôi so với thế kỷ trước. Và kể từ năm 1993, mực nước biển toàn cầu đã tăng trung bình 3.39mm mỗi năm - hệ quả trực tiếp của việc trái đất nóng dần lên và băng tan. Mực nước biển dâng có thể do hiện tượng nóng lên toàn cầu - mà phần lớn là từ những tác động của con người. Điều này sẽ làm tăng mực nước biển trong tương lai về lâu dài.
Nhiệt độ gia tăng làm nước giãn nở, đồng thời làm tan chảy các sông băng, núi băng và băng lục địa khiến lượng nước bổ sung vào đại dương tăng lên. Dự kiến, nhiệt độ tăng sẽ tiếp tục là nhân tố chủ yếu làm mực nước biển dâng trong thế kỷ tới. Giáo sư Michael Freilich, Giám đốc bộ phận Khoa học Trái Đất ở NASA, nhận định, mực nước biển dâng cao có thể nhấn chìm hoàn toàn một số quốc đảo trong khu vực Thái Bình Dương. Những bang nằm ở vùng trũng của Mỹ như Florida cùng với một số thành phố lớn trên thế giới như Tokyo có nguy cơ biến mất.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Sự thay đổi mực nước biển giai đoạn 1993 - 2014 Nguồn: NASA Goddard Space Flight Center * Lượng băng ở Bắc Cực [15] Việc Trái đất nóng lên đang khiến băng ở Bắc Cực tan chảy nhanh hơn, điều này có thể gây nên viễn cảnh mực nước biển tiếp tục dâng cao, đe dọa nhấn chìm nhiều vùng đất trên thế giới. Chỉ trong 10 năm gần đây, lượng băng tan lớn hơn so với cách đây 100 năm. NASA cho biết phạm vi băng Bắc Cực tối thiểu đã giảm từ cuối những năm 1970 do hiện tượng nóng lên toàn cầu, và bắt đầu trở nên nghiêm trọng kể từ năm 1996. 10 mức tối thiểu thấp nhất đã được ghi nhận trong vòng 11 năm qua.
Cũng theo các nhà nghiên cứu từ NASA và Trung tâm dữ liệu băng tuyết quốc gia Hoa Kỳ (NSIDC), phạm vi kích thước băng Bắc Cực đã giảm xuống còn 4,4 triệu km2 vào mùa hè 2015. Đây là mức tối thiểu thấp thứ 4 kể từ khi vệ tinh bắt đầu được sử dụng để quan sát độ bao phủ của băng vào năm 1979. Dữ liệu từ vệ tinh Grace của NASA cho thấy rằng Băng lục địa (Land Ice) ở cả Nam Cực và đảo băng Greenland đang mất dần khối lượng. Các lục địa Nam Cực đã mất khoảng 134 tỷ tấn băng mỗi năm kể từ năm 2002, trong khi các tảng băng ở Greenland đã mất khoảng 287 tỷ tấn mỗi năm.
(Nguồn: dữ liệu vệ tinh Grace) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua một số minh chứng kể trên, có thể thấy được sự BĐKH đã và đang diễn ra từng ngày, và ngày càng nghiêm trọng trên toàn cầu. Những tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở các điểm sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái. Những bằng chứng cho các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico. Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biển dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác hạn hán lại đang hoành hành.
Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hơn. Hạn hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực trên toàn cầu trở nên bấp bênh. Hiện nay Ấn Độ, Pakistan và vùng cận Sahara thuộc châu Phi đang phải hứng chịu các đợt hạn hán nghiêm trọng. Giới khoa học dự báo lượng mưa tại các khu vực trên sẽ tiếp tục giảm trong những thập kỷ tới.
Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu tại châu Phi cho rằng, tới năm 2020, sẽ có 75 – 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng, và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%.