phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và các mục lục ra luận văn bao gồm: Chƣơng I: Tổng quan các nghiên cứu về truyền thông BĐKH Chƣơng II: Cơ sở lý luận, hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III: Xây dựng mô hình truyền thông về BĐKH 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Biến đổi khí hậu toàn cầu và biến đổi khí hậu tại Việt Nam 1. Biến đổi khí hậu toàn cầu Theo IPCC (2013), nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu thế tăng lên rõ rệt kể từ những năm 1950, nhiều kỷ lục thời tiết và khí hậu cực đoan đã đƣợc xác lập trong vài thập kỷ qua.
Khí quyển và đại dƣơng ấm lên, lƣợng tuyết và băng giảm, mực nƣớc biển tăng, nồng độ các khí nhà kính tăng. Biến đổi của nhiệt độ có xu thế chung là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao so với vùng vĩ độ thấp; tăng nhanh hơn ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng ven biển và hải đảo; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. Số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm; số ngày và số đêm nóng, số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên quy mô toàn cầu. Cùng với sự tăng nhanh của nhiệt độ, diện tích băng cũng có xu thế giảm, giảm đáng kể nhất trong những năm gần đây.
Xu thế biến đổi lƣợng mƣa tăng ở đa phần các khu vực trên quy mô toàn cầu trong thời kỳ 1901-2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở các vùng vĩ độ trung bình và cao; ngƣợc lại, nhiều khu vực nhiệt đới có xu thế giảm. Xu thế tăng/giảm của lƣợng mƣa phản ánh rõ ràng hơn trong giai đoạn 1951-2010 so với giai đoạn 1901- 2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở khu vực Châu Mỹ, Tây Âu, Úc; xu thế giảm rõ ràng nhất ở khu vực Châu Phi và Trung Quốc.
IPCC cũng tiếp tục khẳng định số vùng có số đợt mƣa lớn tăng nhiều hơn số vùng có số đợt mƣa lớn giảm. Hạn hán không có xu thế rõ ràng do hạn chế về số liệu quan trắc và đánh giá hạn. Xu thế về tần số bão là chƣa rõ ràng, tuy nhiên gần nhƣ chắc chắn rằng số cơn bão mạnh cũng nhƣ cƣờng độ của các cơn bão mạnh đã tăng lên (IPCC, 2013). Số liệu tại các trạm quan trắc mực nƣớc biển cho thấy mực nƣớc biển có xu thế tăng toàn cầu.
Tuy nhiên sự gia tăng mực nƣớc biển là không đồng nhất giữa các khu vực, cá biệt tại một số trạm mực nƣớc có xu thế giảm. Nguyên nhân là do quá trình khối băng tan vào đại dƣơng làm thay đổi lực tải lên lớp vỏ trái đất, dẫn đến sự phản ứng lại của lớp vỏ trái đất đến lớp chất lỏng trên đại dƣơng làm mực nƣớc biển tƣơng đối giảm mạnh ngay tại các khu vực có băng tan nhƣ Alaska, Scandinavia nhƣng lại gây tăng tại hầu hết các khu vực khác trên toàn cầu (IPCC, 2013). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những tổn thất về kinh tế từ thiên tai liên quan đến thời tiết và khí hậu đã tăng lên. Các thiệt hại do thiên tai liên quan đến khí hậu và khí hậu toàn cầu báo cáo trong vài thập kỷ gần đây phản ánh chủ yếu các thiệt hại trực tiếp đến tài sản và phân bố không đều.
Ƣớc tính tổn thất hàng năm dao động từ năm 1980 từ vài tỷ USD lên trên 200 tỷ USD (năm 2010), với giá trị cao nhất cho năm 2005 (năm cơn bão Katrina). Ƣớc tính tổn thất là ƣớc tính thấp hơn bởi vì nhiều tác động, nhƣ mất mạng sống con ngƣời, di sản văn hoá, và dịch vụ hệ sinh thái, rất khó để đánh giá và quy đổi thành tiền. Trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2008, trên 95% số ca tử vong do thiên tai xảy ra ở các nƣớc đang phát triển. Giai đoạn từ 2001 đến 2006, thiệt hại chiếm khoảng 1% GDP đối với các quốc gia có thu nhập trung bình, trong khi tỷ lệ này là khoảng 0,3% GDP cho các nƣớc có thu nhập thấp và dƣới 0,1% GDP đối với các nƣớc có thu nhập cao (IPCC, 2012).
Năm 2015, khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng tiếp tục là khu vực dễ bị thiên tai nhất trên thế giới. Trong khu vực này có 160 các loại thiên tai đã đƣợc ghi nhận, chiếm 47% trong tổng số 344 thiên tai trên thế giới. Khu vực này chịu nhiều thảm họa thảm khốc với hơn 16.000 trƣờng hợp tử vong - tăng gấp đôi so với năm 2014. Thiệt hại về kinh tế trong năm 2015 lên tới 45,1 tỷ USD và thậm chí tổn thất gián tiếp cao hơn.
Tuy nhiên, những con số này là những đánh giá thấp bởi vì không có đánh giá có hệ thống về chi phí của tất cả các thảm hoạ đã xảy ra ở khu vực, đặc biệt là các thảm họa chậm nhƣ hạn hán, sóng nhiệt và cháy rừng. Thiên tai đã ảnh hƣởng 2,24 tỷ ngƣời trong khu vực và gây ra thiệt hại lên đến hơn 400 tỷ đô la kể từ năm 1970, bao gồm những thiệt hại về cơ sở hạ tầng, nhà ở, trƣờng học, cơ sở y tế và đƣờng xá. Chi phí kinh tế liên quan đến thiên tai trong khu vực đang gia tăng. Theo tỷ lệ GDP, thiệt hại cũng có xu hƣớng tăng từ 0,16% trong thập niên 1970 lên 0,34% trong thập niên từ năm 2005 đến năm 2014.
Trên cơ sở trung bình hàng năm, chi phí của thiên tai cho khu vực đã tăng từ 1,8 tỷ USD trong thời gian những năm 1970, lên tới 73,8 tỷ USD trong giai đoạn từ 2004 đến 2013, tăng 40 lần, chiếm 49% tổng tổn thất hàng năm trên toàn cầu (ESCAP, 2016). Biến đổi khí hậu ở Việt Nam Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Trung bình cả nƣớc, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng 0,620C, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,420C. Tốc độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,100C, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu (0,120C/thập kỷ).
Có sự khác nhau về mức tăng nhiệt độ giữa các vùng và các mùa trong năm. Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa xuân. Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên có mức tăng nhiệt độ lớn nhất, khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng thấp nhất (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Biến đổi lƣợng mƣa, trong thời kỳ 1958-2014, lƣợng mƣa năm tính trung bình cả nƣớc có xu thế tăng nhẹ.
Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân; giảm vào các tháng mùa thu. Nhìn chung, lƣợng mƣa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (từ 5,8% ÷ 12,5%/57 năm); các khu vực phía Nam có xu thế tăng (từ 6,9% ÷ 19,8%/57 năm). Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%/57 năm); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%/57 năm). Đối với các khu vực phía Bắc, lƣợng mƣa chủ yếu giảm rõ nhất vào các tháng mùa thu và tăng nhẹ vào các tháng mùa xuân.
Đối với các khu vực phía Nam, lƣợng mƣa các mùa ở các vùng khí hậu đều có xu thế tăng; tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông (từ 35,3% ÷ 80,5%/57 năm) và mùa xuân (từ 9,2% ÷ 37,6%/57 năm) (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 10C/10 năm. Số ngày nóng (số ngày có Tx ≥350C) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nƣớc, đặc biệt là ở Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2÷3 ngày/10 năm, nhƣng giảm ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Số lƣợng các đợt hạn hán, đặc biệt là hạn khắc nghiệt gia tăng trên phạm vi toàn quốc.
Các giá trị kỷ lục liên tiếp đƣợc ghi nhận trong vài năm trở lại đây. Từ năm 2000 đến nay, khô hạn gay gắt hầu nhƣ năm nào cũng xảy ra. Vào năm 2010 mức độ thiếu hụt dòng chảy trên hệ thống sông, suối cả nƣớc so với trung bình nhiều năm từ 60÷90%, mực nƣớc ở nhiều nơi rất thấp, tƣơng ứng với tần suất lặp lại 40÷100 năm. Năm 2015 mùa mƣa kết thúc sớm, dẫn đến tổng lƣợng mƣa thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm trên phạm vi cả nƣớc, đặc biệt là ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Số ngày rét đậm, rét hại ở miền Bắc có xu thế giảm, đặc biệt là trong hai 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thập kỷ gần đây, tuy nhiên có sự biến động mạnh từ năm này qua năm khác, xuất hiện những đợt rét đậm kéo dài kỷ lục, những đợt rét hại có nhiệt độ khá thấp. Mƣa cực đoan có xu thế biến đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu: giảm ở hầu hết các trạm thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và tăng ở phần lớn các trạm thuộc các vùng khí hậu khác. Số liệu quan trắc cho thấy mƣa trái mùa và mƣa lớn dị thƣờng xảy ra nhiều hơn. Trong những năm gần đây, mƣa lớn xảy ra bất thƣờng hơn cả về thời gian, địa điểm, tần suất và cƣờng độ.
Về bão và áp thấp nhiệt đới, theo số liệu thống kê thời kỳ 1959-2015, trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) hoạt động trên Biển Đông, trong đó khoảng 45% số cơn hình thành ngay trên Biển Đông và 55% số cơn hình thành từ Thái Bình Dƣơng di chuyển vào. Hiện nay hàng năm có khoảng 7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hƣởng đến Việt Nam, trong đó có hơn một nửa cơn bão đổ bộ hoặc ảnh hƣởng trực tiếp đến đất liền nƣớc ta. Nơi có tần suất hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới lớn nhất nằm ở phần giữa của khu vực Bắc Biển Đông. Khu vực bờ biển miền Trung từ 160N đến 180N và khu vực bờ biển Bắc Bộ (từ 200N trở lên) có tần suất hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới cao nhất trong cả dải ven biển Việt Nam.
Hoạt động và ảnh hƣởng của bão và áp thấp nhiệt đới đến nƣớc ta trong những năm gần đây có những diễn biến bất thƣờng. Tháng 3/2012, bão Pakhar đổ bộ vào miền Nam Việt Nam với cƣờng độ gió mạnh nhất theo số liệu qua trắc đƣợc.