Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chƣơng 2: Số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản về biến đổi khí hậu và truyền thông 1. Biến đổi khí hậu và các thuật ngữ liên quan a. Biến đổi khí hậu Theo Công ƣớc khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) có 2 định nghĩa sau: Định nghĩa 1: “BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” [2].
Định nghĩa 2: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khảng thời gian so sánh được” [2]. Theo Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) định nghĩa “BĐKH là sự thay đổi trạng thái của khí hậu trong một khoảng thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ, có thể được nhận biết qua sự thay đổi về giá trị trung bình và sự biến động các thuộc tính của nó. Biến đổi khí hậu có liên quan đến sự thay đổi khí hậu tự nhiên theo thời gian và do những tác động của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất” [27]. Chƣơng trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với BĐKH cũng đƣa ra định nghĩa về BĐKH nhƣ sau: “BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” [5]. Giảm nhẹ BĐKH: Là các hành động, các biện pháp nhằm giảm mức độ, cƣờng độ phát thải khí nhà kính và tăng cƣờng các bể hấp thụ khí nhà kính. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo IPCC, giảm nhẹ BĐKH là những thay đổi về kỹ thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính. Giảm nhẹ BĐKH mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa các khí nhà kính [26].
Theo UNFCCC, giảm nhẹ BĐKH là sự can thiệp của con ngƣời nhằm giảm nguồn phát thải hoặc tăng bể chứa các khí nhà kính [33]. Thích ứng với BĐKH Theo IPCC, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời để ứng phó với những tác động thực tại hoặc tƣơng lai của khí hậu do đó làm giảm tác hại hoặc tận dụng những lợi ích mang lại [26]. Theo Stakhiv, thích ứng là sự điều chỉnh một cách chủ động, chống lại nhằm làm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực do BĐKH [20]. Theo Burton, thích ứng với BĐKH là một quá trình mà qua đó con ngƣời làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trƣờng khí hậu mang lại [30].
Hiệu ứng nhà kính Hiệu ứng nhà kính là hiệu ứng xảy ra khi bầu không khí của Trái Đất nóng lên do các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua các tầng của khí quyển chiếu xuống bề mặt Trái Đất. Khi đó, mặt đất hấp thu nguồn nhiệt và phản hồi lại vào khí quyển bằng bức xạ sóng dài. Một số khí trong khí quyển hấp thụ bức xạ sóng dài và phản xạ trở lại bề mặt đất khiến cho bầu không khí nóng lên. Kịch bản BĐKH: Là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữa KT-XH (sự phát triển của dân số, sản xuất công nghiệp, năng lƣợng.), phát thải khí nhà kính do sử dụng năng lƣợng hóa thạch và năng lƣợng tái tạo, BĐKH và mực nƣớc biển dâng.
Khả năng bị tổn thƣơng: Là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Định nghĩa truyền thông Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, chia sẻ thông tin giữa mọi ngƣời với nhau nhằm mục đích truyền đạt hiểu biết, kiến thức tùy theo lĩnh vực. Truyền thông là một hình thức tƣơng tác xã hội và trong đó có ít nhất hai tác nhân tƣơng tác với nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung.
Truyền thông ở mức đơn giản là thông tin đƣợc truyền từ ngƣời gửi đến ngƣời nhận. Truyền thông ở dạng phức tạp là các thông tin trao đổi liên kết ngƣời gửi và ngƣời nhận. Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008), “truyền thông là một quá trình trong đó con người làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới người nhận thông tin (đối tượng truyền thông) nhằm mục đích nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phương tiện khác nhau” [12]. Mục tiêu truyền thông Truyền thông nhằm mục đích nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của ngƣời tiếp nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phƣơng tiện khác nhau, ngƣời làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) sẽ truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới ngƣời nhận thông tin (đối tƣợng truyền thông) [12].
Các phƣơng thức truyền thông Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008), có 3 phƣơng thức truyền thông thƣờng đƣợc sử dụng đó là: Truyền thông một chiều: Đây là phƣơng thức truyền thông mà ngƣời truyền thông gửi thông điệp truyền thông tới ngƣời nhận thông điệp thông qua kênh truyền thông. Và ngƣời truyền thông không có điều kiện nhận lại sự phản hồi của đối tƣợng đƣợc truyền thông [12]. Truyền thông hai chiều: Là phƣơng thức truyền thông mà ngƣời gửi và ngƣời nhận thông điệp truyền thông đƣợc trao đổi với nhau thông qua kênh truyền thông. Trong đó, ngƣời gửi thông điệp có điều kiện thu thập các thông tin phản hồi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com từ ngƣời nhận.
Quá trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần [12]. Truyền thông nhiều chiều: Đây là phƣơng thức truyền thông đòi hòi ngƣời gửi thông điệp truyền thông cần hiểu biết đối tƣợng truyền thông trƣớc khi gửi thông điệp truyền thông bằng cách thu thập thông tin từ phía đối tƣợng truyền thông. Quá trình truyền thông theo phƣơng thức nhiều chiều bao gồm 3 bƣớc là thu thập thông tin về đối tƣợng truyền thông, gửi thông điệp truyền thông tới đối tƣợng truyền thông, phản hồi thông tin từ phía đối tƣợng truyền thông [12]. Truyền thông biến đổi khí hậu Truyền thông BĐKH thực chất cũng giống với truyền thông môi trƣờng.
Do vậy, truyền thông BĐKH bao gồm các vấn đề về môi trƣờng có tác động hay ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới mọi ngƣời, mọi ngành, mọi nghề, mọi mặt của đời sống xã hội của con ngƣời, không chỉ đối với các thế hệ hiện tại mà cả các thế hệ tƣơng lai. Truyền thông về BĐKH không chỉ nhằm truyền đạt thông tin tới ngƣời nhận mà còn nhằm thu hút nhiều ngƣời tham gia vào quá trình chia sẻ thông tin, tạo ra sự hiểu biết chung, nâng cao nhận thức chung về BĐKH để từ đó cùng chia sẻ trách nhiệm và thống nhất hành động theo một hƣớng chung trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến BĐKH [12]. BĐKH đƣợc quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960 nhƣng phải đến nửa cuối thập niên 1980, truyền thông về BĐKH mới thực sự bắt đầu phát triển. Mới đầu, các hoạt động truyền thông tập trung vào các phát hiện khoa học về BĐKH, các báo cáo tổng hợp về một số hiện tƣợng thời tiết cực đoan, các cuộc họp về hoạch định chính sách.
Sau 20 năm phát triển thì vấn đề BĐKH không còn là cuộc tranh luận của riêng các chuyên gia. Sự phát triển nhanh nhƣ vũ bão của các phƣơng tiện truyền thông đã giúp cho công chúng nâng cao đƣợc nhận thức về BĐKH. Ngày nay, truyền thông BĐKH đã đƣợc đƣa đến nhiều đối tƣợng khác nhau qua các kênh truyền thông nhƣ các diễn đàn, bản tin truyền hình, chƣơng trình đào tạo với những thông tin đa dạng hơn, truyền tải đến cộng đồng với vô số loại mô hình truyền thông khác nhau dành cho từng đối tƣợng cụ thể [12]. Mô hình truyền thông Mô hình truyền thông đƣợc hiểu là một dạng thức biểu hiện cụ thể, cô đúc lý 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuyết truyền thông, phản ánh mối quan hệ của các yếu tố trong quá trình truyền thông.
Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các bảng, biểu đồ, lƣợc đồ, sơ đồ, các hình tƣợng…đƣợc sử dụng để quy những ý kiến phức tạp về cách biểu đạt mang tính chất đồ họa, từ đó cho phép dễ nhận biết và nhận thức sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ khác nhau [12]. Các yếu tố tham dự chính trong quá trình truyền thông bao gồm: Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và thƣờng khởi xƣớng quá trình truyền thông. Nguồn phát là một ngƣời, một nhóm ngƣời hay tổ chức, mang nội dung thông tin (thông điệp) trao đổi với ngƣời khác hay nhóm xã hội khác. Thông điệp: Là nội dung thông tin đƣợc trao đổi từ nguồn phát đến đối tƣợng tiếp nhận.
Thông điệp chính là những tâm tƣ, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật…đƣợc mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Tiếng nói, chữ viết, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt…của con ngƣời đƣợc sử dụng để chuyển tải thông điệp. Kênh truyền thông: Là các phƣơng tiện, con đƣờng, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tƣợng tiếp nhận. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, ngƣời ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau nhƣ: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, truyền thông đa phƣơng tiện… Người nhận: Ngƣời nhận hay công chúng/nhóm đối tƣợng truyền thông là cá nhân hay nhóm ngƣời tiếp nhận thông điệp.